Cơ thể tự chữa lành (Anthony William)

Giải Đáp Các Triệu Chứng & Tình Trạng

Những thông tin dưới đây được trích từ cuốn sách Cơ Thể Tự Chữa Lành – Giải Cứu Não (cuốn 7) của Anthony William.
(Quay lại trang tổng hợp các bài từ bộ sách Cơ thể tự chữa lành của Anthony William)

Mục Lục


Hãy nhớ rằng:
Cùng một nguyên nhân có thể gây nên nhiều triệu chứng và tình trạng. Thông thường, các triệu chứng và tình trạng này nhận được những tên gọi khác nhau ngay cả khi các thách thức chúng gây ra cho sức khỏe giống nhau. Hãy lưu ý tới sự thay đổi tinh tế thỉnh thoảng xuất hiện giữa lời giải thích này với lời giải thích khác.
Bạn không nhất thiết phải tìm thấy chính xác vấn đề sức khỏe mà mình lo ngại trong chương này mới có được câu trả lời. Hãy tìm giải thích về triệu chứng hoặc tình trạng gần sát nhất được liệt kê tại đây và kết hợp với kiến thức về cơ sở hình thành các vấn đề về sức khỏe tinh thần, cảm xúc và thể chất.
Hãy tìm tới các công cụ chữa lành như Giải độc Kim loại Nặng, Liệu pháp Hỗ trợ Não, các phương án thanh lọc và chỉ dẫn về các thực phẩm hỗ trợ não trong phần VI, “Đưa bộ não trở về”.
Nếu bạn muốn tăng cường quá trình chữa lành, thì cuốn sách đồng hành, Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não, luôn sẵn sàng có mặt với vai trò như một nguồn thông tin bổ trợ. Ngoài việc cung cấp hơn 100 công thức nuôi dưỡng não bộ, 9 Liệu pháp Sốc giúp cơ thể tự chữa lành, góc nhìn sâu sắc về những thực phẩm cản trở quá trình chữa lành, cùng hàng loạt bài thiền xoa dịu tâm hồn, cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu nào còn chứa phác đồ hỗ trợ điều trị hàng trăm triệu chứng và tình trạng, nên sẽ phong phú hơn chương này.

1. Tình trạng nghiện ngập

Xem chương 8 “Bộ não nghiện ngập”
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ Tình Trạng Nghiện Ngập trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

2. Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)

ADHD không liên quan tới đường ruột hay gen. Không một lý giải phổ biến nào hiện nay giải quyết được căn nguyên chân chính của vấn đề về khả năng chú ý, tập trung, tăng động, bốc đồng, thậm chí chức năng điều hành của não bộ và năng lực tự điều chỉnh. Thứ thực sự gây nên ADHD là thủy ngân và nhôm lắng đọng trong kênh giữa não, từ đó chia cắt bán cầu não trái với bán cầu não phải, cộng với một số kim loại nữa nằm tán loạn ở nhiều khu vực khác trong não. Căn nguyên gây chứng tự kỷ cũng tương tự như vậy (chi tiết ở phần sau); có điều, với bệnh ADHD, tỷ lệ nhôm hơi nhiều hơn một chút và thủy ngân ít hơn một chút. Khi hai kim loại này chiếm cứ kênh giữa não, chúng ngăn chăn các giao tiếp liên bán cầu trong não. Hậu quả là, não buộc phải thích ứng với điều đó, các xung điện phải tìm tuyến đường mới, di chuyển qua những tế bào thần kinh vốn không được dùng để chuyện trò, lắng nghe, hay thực hiện các dạng hoạt động và giao tiếp khác. Đây là lý do tại sao bạn thường thấy trẻ mắc ADHD hành xử theo cách này trong khi bạn yêu cầu chúng hành xử theo cách khác. Các hóa chất gia dụng ngày càng phát triển mà trẻ phải đối mặt trong thế giới hiện thời đang kích thích và trầm trọng hóa thêm tình trạng này. Chi tiết hơn về ADHD có trong cuốn Cơ thể tự chữa lành 1 – Lý giải những căn bệnh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị ADHD trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

3. ALS (Xơ cứng teo cơ một bên/bệnh LOU GEHRIG/bệnh thần kinh vận động)

Khi nhận phải chẩn đoán ALS, căn bệnh thường khiến bệnh nhân và người thân của họ cảm thấy vô vọng. Nếu bạn rơi vào cảnh ngộ này, hãy can đảm lên. Như rất nhiều bệnh mạn tính khác, ALS chỉ là một nhãn mác, chứ không phải một lý giải. Chỉ riêng cái nhãn ALS -cùng nỗi sợ hãi, hoảng loạn và mất ngủ mà nó gây nên – đã góp phần khiến sức khỏe người bệnh sụt giảm đột ngột. Thấu hiểu căn nguyên ALS sẽ khơi mở kiến thức về cách làm thế nào có thể thực sự khỏe lên, bởi thật ra nó không phải một án tử.
Và hãy nhớ rằng bạn có thể nhận được chẩn đoán ALS trong khi thực ra những gì bạn đang trải qua lại là bất cứ những gì triệu chứng hoặc tình trạng nào khác không phải ALS thật sự. Ngay cả một số triệu chứng thần kinh gây suy nhược nhất trông tương tự ALS cũng không phải ALS.
Các cộng đồng y khoa còn chưa biết rằng ALS thực ra là bệnh viêm do virus, phát sinh từ tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng virus HHV-6 và một vài chủng virus herpes khác biến đổi ở mỗi người. Đây là một trong những trường hợp hiếm mà tình trạng nhiễm trùng virus thực sự hiện diện trong não hoặc thân não, đôi khi còn ở tủy sống. Thứ khiến tình hình trở nên trầm trọng đến thế là kim loại nặng độc hại – thường gồm lượng lớn đồng và nhôm – cũng có mặt ngay lúc đó và cung cấp nguồn nhiên liệu dồi dào cho virus. Mọi hoạt động của virus đều có thể tác động tới các tế bào thần kinh vì độc tố thần kinh mà virus gây ALS sản sinh ra cực kỳ ghê gớm và ác hại đối với hệ thần kinh trung ương; chúng gây nên nhiều triệu chứng như co giật cơ, co cứng, tê liệt và mất cơ. Trong nhiều trường hợp, thân não có thể trở nên rất nhạy nhưng lại phản xạ kém do viêm, khiến các triệu chứng càng thêm bí ẩn và phức tạp. Đối với người bệnh ALS, điều quan trọng là phải tránh xa các hóa chất độc hại được liệt kê trong cuốn sách này – những kẻ chống phá não bộ đó thường trầm trọng hóa các triệu chứng bệnh. ALS chưa chắc sẽ dẫn đến tình trạng bệnh nhân mất khả năng kiểm soát cơ thể. Nếu bạn cam kết khử bỏ kim loại nặng độc hại ra khỏi cơ thể, tránh phơi nhiễm hóa chất hết sức có thể, đồng thời giảm bớt hoạt động của virus bằng cách áp dụng các kỹ thuật và phác đồ trong phần VI của cuốn này, cũng như cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não, thì đến cuối cùng, bạn sẽ có thể bắt đầu giành lại sức khỏe của mình.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ ALS trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

4. Bệnh ALZHEIMER

Xem chương 36
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ bệnh Alzheimer trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

5. Chứng biếng ăn

Xem chương 33
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ chứng biếng ăn trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

6. Chứng lo âu

Xem chương 31
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ chứng lo âu trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

7. Tình trạng bồn chồn

Chứng bồn chồn xuất hiện tách biệt với chứng lo âu, vì nhiều người đang sống với cảm giác nhạy cảm cực độ và bồn chồn cực độ mà không gắn cái nhãn “chứng lo âu” cho tình trạng đó. Nhiều người sẽ không nói mình mắc chứng lo âu, nhưng hệ thần kinh trung ương của họ hiện hữu tình trạng nhạy cảm tiềm ẩn và đó là tiền thân của chứng lo âu. Nếu ai đó chuẩn bị lên sân khấu diễn kịch tại trường, sắp sửa gặp lại một người bạn lần đầu tiên sau một năm, hay được giao thực hiện dự án lớn – tất cả đều là những dạng bồn chồn rất tự nhiên, dễ hiểu và xảy ra tạm thời. Tình trạng căng thẳng cảm xúc, lạm dụng tinh thần, hoặc căng thẳng tột độ sau sự mất mát, phản bội hay chia tay cũng tương tư như vậy – những thách thức đó hoàn toàn có thể giải thích được nỗi bồn chồn.
Trái lại, nếu bạn liên tục thấy mình tham gia các hoạt động thông thường (như vừa lái xe vừa trò chuyện với bạn bè, hoặc đi dạo với gia đình) mà bị đổ mồ hôi quá độ hay thấy bồn chồn nhiều đến mức không lý giải nổi, thì nguyên nhân thường là tình trạng sưng tấy khó nhân biết, dẫn đến hệ thần kinh trung ương nhạy cảm vì lượng nhỏ kim loại nặng độc hại kết hợp với hoạt động cấp thấp của virus. Hãy quay lại chương 31 để tìm hiểu thêm.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tình Trạng Bồn Chồn trong cuốn Phác đó thanh lọc & công thức giải cứu não.

8. Xơ cứng động mạch, Xơ vữa động mạch & vữa động mạch

Khi nghĩ tới vấn đề tích tụ mảng bám thành mạch, chúng ta thường lo lắng cho các động mạch lớn và trái tim – ta nên như vây. Nhưng chúng ta cũng nên dành nhiều sự quan tâm tới sự tích tụ mảng bám trong mạch máu não. Các động mạch lớn trong cơ thể có nhiều khoảng trống hơn, nên chúng có thể mất nhiều năm mới thu hẹp lại mà không gây nên rắc rối. Còn trong mạch máu não, không có nhiều khoảng trống để thu hẹp dần mà vẫn đủ chỗ cho máu chảy qua; vì thế, mạch máu hẹp trong não có thể mau chóng tắc nghẽn hơn nhiều. Thông thường, khi một người trải qua cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) hay cơn đột quỵ nhẹ, đó là dấu hiệu sớm cho thấy chất béo, độc tố và rác thải của virus đang tích tụ và gây tắc nghẽn các mạch máu não – và sự kiện nghiêm trọng hơn có thể sắp sửa xảy đến. Đây là một lý do rất quan trọng giải thích tại sao việc giảm bớt lượng chất béo trong chế độ ăn, duy trì hệ miễn dịch khỏe mạnh để ngăn chặn virus và giảm thiểu tình trạng phơi nhiễm độc tố là cực kỳ cấp thiết.
Bạn sẽ nghe thấy nhiều tranh luận rằng chỉ chất béo xấu mới gây xơ vữa động mạch. Xin đừng bị thuyết phục bởi lý do thiếu chính xác đằng sau chế độ ăn thời thượng giàu protein và chất béo này. Một chế độ ăn chứa hàm lượng chất béo lành mạnh, hữu ích cao cũng có thể dẫn đến tình trạng hóa cứng động mạch, lắng cặn chất béo, tích tụ mảng bám và các khối tắc nghẽn trong não.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Xơ Vữa Động Mạch trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

9. Rối loại khả năng xử lý âm thanh (APD)

Rối loạn này phát sinh do kim loại nặng độc hại nằm trong hoặc nằm quanh vỏ não thính giác. Mặc dù người bệnh có thể mắc APD cùng lúc với mất khả năng nghe, nhưng bản thân APD không phải vấn đề về tai hay thính lực. Đúng hơn, kim loại trong vỏ não thính giác đã ngăn chặn dòng điện đi vào các tế bào thần kinh, phá hoại khả năng xử lý những thông tin vừa được truyền đạt tới bệnh nhân. Kim loại nằm chính xác tại vị trí nào trong vỏ não và với liều lượng bao nhiêu sẽ quyết định mức độ vấn đề thính lực của người bệnh nhẹ nhàng hay nghiêm trọng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối Loạn Khả Năng Xử Lý Âm Thanh trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

10. Tự kỷ

Tự kỷ phát sinh do kim loại nặng độc hại (đặc biệt là thủy ngân và nhôm) tụ tập trong kênh giữa não, cũng như nhiều khu vực khác của não. Ở bệnh tự kỷ, lượng thủy ngân nhiều hơn và tỷ lệ cao hơn; ngoài kênh giữa não, nhiều vùng khác của não cũng bị bão hòa hơn, dẫn tới tình trạng ác liệt hơn. Đặc biệt, kim loại nặng phân tán tràn lan trong các vùng não kiểm soát khả năng nói, khả năng ngôn ngữ, giao tiếp, di chuyển và vận động là nguyên nhân gây nên các triệu chứng liên quan tới tự kỷ.
Sự biến đổi mức độ nghiêm trọng của bệnh tự kỷ – tức phổ tự kỷ – đến từ sự biến động về hàm lượng kim loại trong não người bệnh, số lượng thủy ngân hiện hữu và vị trí chính xác của những kim loại nặng đó.
Thời gian gần đây, mức độ chẩn đoán tự kỷ dạng nhẹ gia tăng rất nhiều, khiến chúng ta đôi khi quên đi những gia đình và những cá nhân đang phải vật lộn với chứng tự kỷ dạng nặng. Khi các bậc cha mẹ có con mắc tự kỷ nặng và họ nhắc tới đứa bé, người khác có lẽ sẽ cho rằng mọi chuyện ổn thôi vì hiện có quá nhiều người nhận được chẩn đoán tự kỷ dạng nhẹ. Nhưng những điều mà nhóm người bàng quan không thấy là sự kiệt sức, tình trạng thiếu ngủ, các bậc cha mẹ vô phương tìm kiếm trợ giúp, một hệ thống không được thiết kế để hổ trợ các vị phụ huynh ứng phó với ca tự kỷ nghiêm trọng.
Cha mẹ và các thành viên trong gia đình của bệnh nhân mắc tự kỷ nặng -một khi họ biết được căn nguyên – sẽ thấu hiểu rằng con cái và người thân yêu của mình đang phải vật lộn với tình trạng nhiễm độc kim loại nặng nghiêm trọng. Trái lại, cha mẹ và các thành viên trong gia đình của người bệnh ở phía nhẹ hơn trên phổ tự kỷ, với các triệu chứng rất nhẹ (nhiều trong số đó không thể quan sát thấy), thường ít dính líu tới kim loại nặng độc hại. Dạng tự kỷ rất nhẹ vẫn cho phép cuộc sống tiếp tục tiến về phía trước và không đòi hỏi nhu cầu mãnh liệt về một lời giải thích. Chính nhu cầu tha thiết về một lời giải thích mới mở cánh cửa dẫn tới sự thấu suốt những gì thực sự gây nên các triệu chứng tự kỷ, dù dạng nặng hay nhẹ: Tổn thương do kim loại nặng độc hại.
Nếu bệnh nhân tự kỷ còn mắc phải rối loạn tic, co thắt và mệt mỏi, thì có thể còn xuất hiện một tải lượng virus nữa -hãy tham khảo “Rối loạn tic và co thắt” và “ME/CFS” cuối chương này. Chi tiết hơn về chứng tự kỷ có trong cuốn Cơ thể tự chữa lành 1 – Lý giải những căn bênh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bán chỉnh lý và mở rông.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều ADHD trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

11. Vấn đề thăng bằng & hoa mắt/chóng mặt

Vấn đề thăng bằng mạn tính và hoa mắt, chóng mặt là hệ quả của tình trạng viêm dây thần kinh phế vị, thậm chí viêm dây thần kinh hoành – và hậu quả của việc những virus như EBV ngấu nghiến kim loại nặng độc hại, cũng như các nguồn thực phẩm khác (như độc tố hóa học, trứng và chế phẩm bơ sữa) rồi thải ra độc tố thần kinh, một thứ khiến hệ thần kinh trung ương trở nên dị ứng. Thêm nữa, EBV thực sự có thể trực tiếp gây nhiễm độc dây thần kinh phế vị, dẫn đến các triệu chứng tương tự. Bởi vì dây thần kinh phế vị đi vào hộp sọ, nên dây thần kinh phế vị sưng viêm có thể dẫn tới thân não sưng viêm – tình trạng này, dù ở mức độ nhỏ đến nỗi ảnh quét chụp nào không phát hiện ra, có thể khắc sâu thêm vấn đề thăng bằng và khiến chúng càng triền miên không dứt.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị tình trạng Hoa Mắt/Chóng Mặt trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

12. Liệt dây thần kinh mặt (BELL’S PALSY)

Dạng bệnh liệt mặt bí ẩn này, khi không phải hậu quả của một chấn thương đầu rõ rệt, hình thành do tình trạng nhiễm virus giải phóng lượng lớn độc tố thần kinh – những độc tố thần kinh này thấm đẫm và gây viêm tấy dây thần kinh mặt, dây thần kinh sinh ba, hoặc dây thần kinh sọ khác. Loại virus cụ thể này là virus zona. Một số người có thể mắc một chủng zona gây liệt dây thần kinh mặt cùng lúc với một chủng khác trong hơn 30 chủng virus zona chưa được khám phá ra. Không hiếm gặp trường hợp ai đó mắc nhiều hơn một chủng virus zona. Trong những ca ác liệt, virus zona có thể đến gần dây thần kinh tới mức nó khu trú hoặc đậu ngay trên dây thần kinh. Ở đa số trường hợp, chỉ riêng độc tố thần kinh của virus thôi đã đủ để gây nên cơn đau mặt, suy yếu, tê liệt, méo mặt, thậm chí đau dây thần kinh sinh ba. Chi tiết hơn về virus zona có trong cuốn Cơ thể tự chữa lành 1 – Lý giải những căn bệnh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị virus zona trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

13. Rối loạn lưỡng cực

Xem chương 35
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị rối loạn lưỡng cực trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

14. Áp xe não

Một tình trạng nhiễm trùng nào khiến dịch lỏng tích tụ rồi hình thành một dạng áp xe não có thể phát sinh do virus, vi khuẩn hoặc cả hai. Mặc dù tình trạng này chưa chắc đã gây nên nhiều triệu chứng thần kinh như nhiều bệnh trong danh sách này, nhưng nó có thể đẩy người bệnh vào trạng thái suy yếu khó hiểu. Mở màn cho tình trạng này là một hệ miễn dịch cực kỳ nhạy cảm hoặc cực kỳ suy yếu. (Nhân đây xin nói, hệ miễn dịch suy yếu không cho thấy người bệnh yếu ớt hay có khiếm khuyết về gen. Mà nó chỉ có nghĩa rằng độc tố từ những kẻ chống phá não bộ gây tổn thương hệ miễn dịch của họ.) Virus gây áp xe não có thể là bất cứ loại nào từ chủng EBV hiếm tới HHV-6, HHV-7, HHV-10, HHV-12 HHV-14, HHV-15 và HHV-16 – nhiều trong số đó còn chưa được các nghiên cứu y khoa khám phá ra. Vi khuẩn gây áp xe não có thể bao gồm các nhóm liên cầu khuẩn hoặc MRSA, và chúng cũng chưa được khám phá ra.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Áp Xe Não trong cuốn Phác đồ thanh loc & công thức giải cứu não.

15. Sương mù não

Những ca sương mù não nghiêm trọng có thể gây tàn phá ghê gớm và khiến người bệnh cảm thấy như mình đang mất trí. Ngay cả ca sương mù não dạng nhẹ cũng là thách thức lớn đối với trạng thái tâm thần và cảm xúc của bệnh nhân. Một nguyên nhân chính đằng sau tình trạng sương mù não là lá gan thấm đẫm kim loại nặng độc hại, nến thơm, máy khử mùi tạo hương, hương liệu, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và nhiều loại độc tố khác đang tiếp nhiên liệu nuôi dưỡng virus Epstein-Bar. Khi EBV ngấu nghiến các chất độc đó, độc tố thần kinh mà nó thải ra bùng nổ trong máu và dịch tủy sống; từ đó, chúng có thể băng qua hàng rào máu não nhờ đặc tính thẩm nhiễm độc đáo, rồi đi vào não, gây đoản mạch tế bào thần kinh và/hoặc tổn thương chất dẫn truyền thần kinh. Những độc tố kể trên có khả năng gây sụt giảm hoạt động dẫn truyền thần kinh và lượng hóa chất dẫn truyền thần kinh- tức là, khi một xung điện cố gắng đi vào một tế bào thần kinh, nó có thể tắt ngúm nếu đụng độ bất cứ dạng ô nhiễm hoặc mâu thuẫn nào. Xung điện đó vốn mang theo thông điệp, ý nghĩ và thông tin, nên khi nó tắt ngúm, sư hỗn loạn và sương mù não sẽ xảy ra như hậu quả của việc thông điệp bị phân mảnh.
Một nguyên nhân khác là tải lượng kim loại nặng độc hại cao trong não. Khi những kim loại này oxy hóa theo thời gian, chất thải ăn mòn của chúng thấm đẫm các mô não lân cận, tế bào thần kinh đệm và mô liên kết, rồi cuối cùng gây ô nhiễm các chất dẫn truyền thần kinh – tương tự như cách độc tố thần kinh của virus tác động tới các chất dẫn truyền thần kinh.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Sương Mù Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

16. Viêm não (ENCEPHALITIS)

Hàng triệu người bệnh mạn tính đang phải sống với tình trạng viêm não nằm ngoài khả năng tầm soát và chẩn đoán. Bạn có thể ốm yếu vì hơn 50 triệu chứng – hầu hết là các triệu chứng thần kinh – tới mức đau đớn đến suy nhược, nhưng dù tham vấn rất nhiều chuyên gia và chuyên viên, rất có thể không một ai nghĩ tới vấn đề viêm não.
Có ba loại viêm não chính. Loại thứ nhất dễ nhận diện nhất và cũng là loại mà các cơ sở y tế thừa nhận ngay: Hậu quả do chấn thương. Dù bạn bị tai nạn đụng đầu hay gặp phải chấn thương đầu, thì não bộ cũng có thể sinh viêm trong ngắn hạn hoặc lâu hơn, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của chấn thương nội.
Loại viêm não thứ hai có lẽ bí hiểm hơn. Trong trường hợp này, các triệu chứng vẫn hiện diện sau thời điểm người đó được kỳ vọng lành chấn thương đầu. Tình trạng viêm não kéo dài dai dẳng và trở thành mạn tính. Đây là dấu hiệu cho thấy virus hiện diện trong cơ thể hoặc trong não; và virus đó đang lợi dụng tình cảnh não dễ bị tổn thương. Khi một chấn thương tác động và gây suy yếu dây thần kinh, các dây thần kinh sẽ trở nên nhạy cảm hơn, để lộ ra nhiều lông rễ, đặc biệt là trong thân não; khi đó, chúng có thể dễ dàng chịu kích thích nếu virus sản sinh độc tố thần kinh trong não, gần não hay ở khu vực khác trong cơ thể. Các cơ sở y tế đã biết rằng tồn tại một hậu quả đến muộn hậu chấn thương đầu. Đó là khi người thụ thương trông vẫn ổn -trong não không phát hiện tổn thương nội nào, họ sống và sinh hoạt bình thường hoặc chỉ hơi đau chút xíu – thế rồi, nhiều ngày, nhiều tuần, hoặc nhiều tháng sau, các triệu chứng bùng lên. Dẫu rằng các triệu chứng đến muộn này còn là bí ẩn đối với giới y bác sĩ, nhưng họ thường sẵn lòng liên kết các triệu chứng đó với chấn thương ban đầu kia. Nhưng họ chưa biết rằng, đây là phản ứng tổn thương đến trễ của thân não trước tình trạng virus gây viêm các dây thần kinh sọ thoát ra từ thân não.
Loại viêm não thứ ba xảy ra khi một virus gây viêm não mà không cần đến chấn thương ban đầu đóng vai trò tác nhân kích hoạt. Trong những ca hiếm gặp này, tự thân virus gắn chặt lấy các dây thần kinh gần não hoặc trong não, kể cả thân não. Những virus làm được điều này thường là các chủng và các đột biến chưa được khám phá ra thuộc họ virus herpes như HHV-6, EBV, virus zona, herpes simplex 1 hoặc herpes simplex 2; đồng thời nhất định phải có mặt hệ miễn dịch suy yếu cùng tải lượng kim loại nặng độc hại cao hòng thúc đẩy virus “định cư” trong não. Tình trạng não nhiễm virus trực tiếp thường khiến não trở nên sưng viêm tới mức bệnh nhân trải qua cơn viêm não cấp tính, buộc phải nhập viện vì viêm não virus.
Đa phần các ca bệnh là do một virus ở vùng khác trên cơ thể gây nên viêm não mạn tính bí ẩn thể nhẹ từ xa. Nhiều người đang sống ngày qua ngày với tải lượng virus cấp thấp mạn tính. Như bạn đã tìm hiểu trong chương 4 và chương 6, khi một chủng đột biến của các virus như EBV, virus zona hoặc HHV-6 khu trú trong một tuyến hoặc cơ quan nào đó như gan, lá lách hay tuyến giáp, virus sẽ bắt đầu giải phóng độc tố thần kinh đi khắp cơ thể. Nếu virus đó sinh sôi nảy nở mạnh mẽ, lượng lớn độc tố thần kinh sẽ đi vào máu rồi từ đó, chúng có thể xâm nhập và gây ô nhiễm não, dẫn tới tình trạng viêm não nhẹ nằm ngoài khả năng tầm soát. Đây chính là loại viêm não mà bệnh nhân mạn tính thường xuyên không được chẩn đoán ra.
Nhiều người rất nhạy với độc tố thần kinh của virus, bị dị ứng với chúng, nên phát sinh tình trạng ngứa ran, tê liệt, đau đầu, chóng mặt, yếu chi, nhay cảm bất thường trước nóng/lạnh, khó chịu nổi một ngày nóng ẩm hoặc khó chịu được lạnh quá lâu, mêt rũ dù đã ngủ đủ số giờ nên ngủ, mệt mỏi, thậm chí mệt mỏi nghiêm trọng thường gọi là mệt mỏi thần kinh (xem thêm mục Viêm Cơ Não Tủy/Hội Chứng Mệt Mỏi Mạn Tính). Nếu những triệu chứng viêm não do độc tố thần kinh của virus gây ra này trở nên ác liệt, đó thường là hậu quả khi có nhiều hơn một virus herpes trú ngụ trong gan, thậm chí trong lá lách. Chẳng hạn, có thể là do hai chủng EBV, một hoặc hai chủng virus zona, herpes simplex 1 hay 2, và HHV-6 xuất hiện cùng một lúc – song song với đó là hệ miễn dịch suy yếu cùng rất nhiều thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, hương liệu hóa học, trứng, chế phẩm bơ sữa và gluten trong cơ thể – những thứ này đều đóng vai trò như nhiên liệu nuôi dưỡng virus. Lượng lớn độc tố thần kinh hung hãn sinh ra từ sự kết hợp giữa virus và các chất độc ấy gây nên nỗi khốn khổ khó lý giải đối với rất nhiều người.
Kim loại nặng độc hại cũng thường góp mặt mới khiến một người phát sinh tình trạng viêm não do nhiễm virus mạn tính ở vùng nào khác trên cơ thể. Kim loại nặng độc hại tạo ra một loại độc tố thần kinh đặc trưng thường gây viêm hệ thần kinh trung ương.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Viêm Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

17. Tổn thương não, đốm trắng, đốm đen, mô sẹo & vôi hóa

Giá mà chúng ta biết được rằng rất nhiều người hiện đang sống với bộ não “dưới mức lý tưởng”. Tôi không nói điều này nhằm khiến bạn sợ hãi. Tôi nói để giúp bạn thấy an ủi hơn nếu bạn từng gặp một vấn đề nào hiển hiện rõ ràng trên ảnh quét chụp – và để bất cứ ai cảm thấy “chắc nó trừ mình ra” nhận thức được rằng nó có thể đã xảy đến rồi; và vì vậy, bộ não cần sự chăm sóc đặc biệt cẩn trọng.
Công nghệ tân tiến nhất của chúng ta, như chụp CT và MRI, chỉ có thể nhận diện những vấn đề khiếm khuyết trong não nếu nó đủ lớn và đủ nổi bật. Nhưng dù các đốm trắng, đốm đen, bóng mờ và đốm xám thực sự hiện ra trong ảnh quét chụp, bác sĩ có thể cũng chưa hiểu được đó là gì.
Tình huống phố biến xảy ra thế này: Ai đó đi thăm khám, có lẽ là sau một chấn động nào đó, dù có kèm mô tả về các triệu chứng nào khác hay không, và yêu cầu chụp MRI thông thường – ảnh quét chụp cho thấy một đốm bất thường trên não. Tình trạng não này thường được phát hiện lần đầu như thế. Rồi bác sĩ bảo rằng, “Trong mô não anh trông như có một đốm đen nhỏ. Hãy làm thêm vài xét nghiệm và chụp chiếu bổ sung, cả xét nghiệm máu nữa. Chúng ta sẽ theo dõi xem sao!” nhưng không cung cấp bất cứ lời giải thích tức thời nào. Nhiều bác sĩ tỏ ra quan ngại, phần nào vì họ không biết điều gì gây nên khiếm khuyết ấy. Ở một thế giới lý tưởng nơi họ có câu trả lời, họ sẽ có thể lập tức nói với bạn rằng chính kim loại nặng độc hại, hóa chất độc hại, aspartame, MSG, muối, dược phẩm, thuốc giải trí kích thích thần kinh, và/hoặc mầm bệnh trong não đang gây nên những khiếm khuyết ấy dưới dạng vôi hóa, kết tinh, mô sẹo, mô não biến màu, hay thương tổn não.
Xin nhắc lại, những khiếm khuyết không phải lúc nào cũng đủ nổi bật để hiển hiện rõ trên ảnh quét chụp. Vị bác sĩ trong thế giới lý tưởng sẽ có khả năng nói với bạn rằng, ngay cả khi ảnh chụp não trông sạch sẽ, thì bạn vẫn có thể đang phải vật lộn với một bất thường nào đó. Còn trong thế giới lý tưởng thực sự, hoạt động quét chụp sẽ tiên tiến tới mức đủ khả năng phát hiện những khiếm khuyết ngay từ giai
đoạn ban sơ.
Vài người có một đốm nhạt trong não. Số khác lại có một đốm sẫm hơn. Số khác nữa có nhiều vùng xám. Và cũng có thể có nhiều đốm. Tất cả chúng đều mang một ý nghĩa riêng biệt.
Đốm đen trong não có thể là mô não đã chết hoặc bị tổn thương rồi chuyển sang sẫm màu vì tiếp xúc với hóa chất độc hại, dược phẩm hoặc thuốc giải trí kích thích thần kinh. Kim loại gỉ sét tương tác với nhau là một nguyên nhân phổ biến khác gây nên đốm đen.
Kim loại nặng độc hại là một trong nhiều nguyên nhân chính dẫn đến sự bất thường trong não, với những tương tác kim loại nặng khác nhau gây nên nhiều bất thường khác nhau. Chẳng hạn, khi thủy ngân tương tác với đồng, dòng chảy oxy hóa của chúng có màu nhớp nhúa, nên có thể dẫn tới các đốm đen và đốm xám trong não. Ví dụ về sự tương tác giữa các kim loai năng khác bao gồm thủy ngân phản ứng với nhôm, thủy ngân với nikel, hoặc nhôm với đồng. Tất cả đều tạo nên những vết ố khác nhau trong não – chúng có thể biểu hiện dưới dạng đốm đen hoặc bóng mờ trên ảnh chụp. Nhiều người đang phải sống chung với vấn đề này, dù họ hoàn toàn không biết hoặc các đốm ấy đã lộ ra trên ảnh quét não nhưng chưa ai có khả năng nhận diện nguyên nhân. Vấn đề có thể bắt đầu nhỏ xíu và tiến triển rất châm lúc đầu đời, rồi phát triển dần dần mà vẫn không được khám phá ra cho đến khi người đó bước vào độ tuổi 50 hoặc 60 và tình cờ chụp MRI.
Các thương tổn não cũng có thể bộc lộ dưới dạng đốm đen, và có nhiều hình dạng khác ngoài dạng đốm và bóng mờ. Các thương tổn là mô bị tổn thương. Đa phần, các thương tổn nằm trên bao dây thần kinh myelin và xảy ra do nhiễm trùng virus mạn tính – chủ yếu là nhiễm trùng một trong nhiều chủng đột biến của EBV, virus zona hay HHV-6. Một virus có thể gây thương tổn do tiếp xúc trực tiếp, hoặc cách vị trí nó khu trú vài centimét nếu virus đang sản sinh ra lượng lớn độc tố thần kinh, rồi những độc tố này di chuyển tới khu vực lân cận trong não. Bạn cũng có thể bị thương tổn do lần nhiễm virus trong quá khứ. Thương tổn có thể nằm lại đó nhiều năm sau đấy – thậm chí vĩnh viễn – dù virus đã biến mất khỏi não từ lâu. Virus có thể gây nên nhiều thương tổn với kích thước và hình dạng khác nhau khi chúng ngấu nghiến kim loại nặng độc hại như thủy ngân, nhôm, hoặc đồng công nghiệp hóa ác hại.
Đốm trắng trong não có thể là các túi nhôm, cặn vôi hóa của canxi, cặn kết tinh của muối, hoặc các cụm MSG. Nhôm có xu hướng oxy hóa khác với thủy ngân, nickel, đồng hoặc chì; nó cũng có màu kim loại sáng hơn và dễ dàng bị phản chiếu khi chụp MRI. Màu sắc và mức độ oxy hóa của nhôm sẽ dẫn tới các đốm trắng. Cũng có thể, não bạn chứa lượng nhôm thấp và không lộ ra đốm trắng nào trên ảnh chụp MRI. Nhưng điều đó nào có nghĩa rằng nhôm không tồn tại. Nhiều đốm trắng mờ đến nỗi các bác sĩ chưa có đủ công nghệ để chẩn đoán hoặc khám phá ra nó.
Một nguyên nhân vôi hóa khác (cũng bộc lộ dưới dạng đốm trắng) là kết quả tương tác của nhôm và canxi trong cơ thể. Các dạng canxi phá hoại có nguồn gốc từ thực phẩm như sữa, phô mai và bơ có thể rất hung hãn với não vì chúng thường phản ứng với nhôm sinh ra cặn canxi độc hại, hay cận vôi hóa. Còn có cả các dạng canxi công nghiệp tự thân đã là kim loại nặng độc hại và những loại canxi bất lợi mà ta tiếp xúc trong môi trường sống từ các ngành công nghiệp. Các dạng canxi khác nhau, khi tìm được tới não, sẽ tương tác với nhau, tạo nên màng lớn cặn canxi hóa cứng.
Mô sẹo trong não (có thể biểu hiện dưới dạng bóng mờ rất sẵm hay đốm xám trên ảnh quết chụp, hoặc không hé lộ diện) xảy đến vì rất nhiều nguyên nhân. Bạn không nhất thiết phải trải qua một lần đột quỵ hay cơn thiếu máu não thoáng qua thì mô sẹo mới hình thành. Ngay cả chấn thương cảm xúc cũng có thể gây ra mô sẹo. Nỗi khốn khổ, sự phản bội, niềm tin tan vỡ hay sự mất mát có thể dữ dội và tai hại đối với mô liên kết não tới nỗi sẹo hình thành do sức nóng cực độ sinh ra tại trung khu cảm xúc não, đặc biệt nếu người đó chưa chuẩn bị tinh thần cho tin xấu đó. Còn có adrenaline sinh ra từ trải nghiệm cảm xúc thấm đẫm não, từ đó gây nên mô sẹo tại các trung khu cảm xúc. Nếu chấn thương cảm xúc xảy đến hết lần này tới lần khác – như trong một mối quan hệ ngược đãi – vết chai cứng có thể hình thành trong mô não. Mặc dù các xung điện vẫn có thể đi qua những vết chai này, nhưng nó cần nhiều năng lượng hơn và phải là đi lặp lại. Những túi mô sẹo nhỏ xíu có thể hình thành từ các vết chai lớn, vì các tế bào trong vết chai vẫn đang cố gắng sinh tồn – chúng bèn nhóm họp lại và bắt đầu phát triển thành một thứ khác hẳn: Mô sẹo. Mô sẹo cũng có thể phát sinh do nhiễm virus; virus có thể tạo nên những màng xơ dính (adhesion) cực nhỏ trong não.
Các đốm bí ẩn trong não biến đổi rất khác nhau, vì tất cả chúng ta đều có trãi nghiệm và sự phơi nhiễm khác nhau. Số kim loại, hóa chất độc hại, dược phẩm và mầm bệnh xâm nhập cuộc đời mỗi chúng ta cũng khác nhau. Sự phơi nhiễm hằng ngày, thường niên hay chỉ một lần cũng tạo nên khác biệt. Các tình huống căng thẳng xảy đến cho mỗi người mỗi khác – hai người trong cùng một hoàn cảnh sẽ phản ứng hoàn toàn khác nhau vì sự tổng hòa tiếp xúc độc nhất vô nhị của từng người.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Các Tổn Thương Não trong cuốn Phác đó thanh lọc & công thức giải cứu não.

18. U bướu & u nang trong não

U bướu và u nang không phải do di truyền như nhiều lập luận. Bất cứ loai u não nào, dù lành tính hay ác tính, đều xuất phát từ cùng một nguyên nhân: Virus và độc tố. U phát triển theo hướng nào tùy thuộc vào việc virus nào hiện diện, cũng như độc tố, chất độc và thực phẩm gây rắc rối nào tích tụ trong cơ thể – đặc biệt trong gan và trong não – rồi tiếp nhiên liệu cho virus và thúc đẩy virus phát triển. Một số chủng virus thuộc họ herpes đứng đằng sau u bướu và u nang não. HHV-6, HHV-7, rồi HHV-10 tới HHV-16 chưa được khám phá ra, cũng như EBV – tất cả đều có các chủng đột biến đặc biệt có thể gây u não.
Cụ thể hơn, nhiễm một trong những loại virus trên không nghiễm nhiên chuyển thành u bướu hay ung thư. Nó cần những đột biến virus hung hãn nhất định bắt tay với tập hợp độc tố thích hợp thì u bướu và ung thư mới phát triển được. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu muốn phòng ngừa, bạn cần áp dụng các bước hữu hiệu sau: (1) tránh bất cứ kẻ chống phá não bộ nào có thể và (2) bảo vệ não bằng các phác đồ trong phần VI.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị U Bướu & U Nang trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

19. Bệnh túi nâng ngực

Bệnh túi nâng ngực là thuật ngữ chỉ một loạt triệu chứng, nhiều trong số đó là các triệu chứng thần kinh như mệt mỏi, ngứa ran, tê bì, chân không yên, tim đập nhanh, hoa mắt chóng mặt, đục dịch kính, sương mù não, tình trạng bồn chồn và yếu chi. Những người mắc bệnh do đặt túi nâng ngực đã dành hàng thập kỷ cố gắng tìm kiếm sự thừa nhận, cố gắng để được lắng nghe.
Giới khoa học chia thành hai phe khi nhắc tới bệnh túi nâng ngực. Một phe tin rằng túi nâng ngực không có khả năng gây bệnh. Phe mới hơn tin rằng nếu túi nâng ngực bị vỡ hay rò rỉ, nó có thể gây hại và dẫn đến hàng loạt triệu chứng. Trong quá khứ, chưa từng có ai sẵn lòng đón nhận ý nghĩ rằng nguy cơ đó có thể xảy đến. Túi ngực là thiết bị y tế. Thế giới của thiết bị y tế, cũng hệt như thế giới của dược phẩm, được bảo hộ và ràng buộc bởi các hiệp ước. Muốn chứng minh một thiết bị là nguyên nhân gây bệnh không phải chuyện dễ dàng. Đã và đang có tới hàng trăm ngàn phụ nữ suốt nhiều năm qua chiến đấu để lên tiếng rằng loại thiết bị y tế này – túi nâng ngực – gây nên nhiều tổn hại. Ngày nay, chúng ta đã ở vị thế mà thông điệp này được chấp nhận nhiều hơn. Nhưng vẫn chưa đủ. Đây vẫn là một chủ đề mà giới y học có ý lãng tránh, cả trong lĩnh vực thay thế lẫn thông thường.
Nhiều người trong ngành công nghiệp y dược – những cá nhân tin rằng có bệnh do túi nâng ngực gây ra – lập luận rằng điều trị thì chỉ cần lấy túi nâng ngực ra, rồi mọi thứ sẽ quay trở lại bình thường. Nhưng đâu chỉ có thế. Các triệu chứng thần kinh phát sinh do bệnh đặt túi nâng ngực không hề tiêu biến khi bạn rút túi nâng ngực ra. Điều này gây nên rất nhiều hoang mang. Cũng vì vậy mà phe chỉ trích trong ngành công nghiệp y tế nói, “Thấy chưa? Túi ngực chưa bao giờ là vấn đề.” Và đó chính là lý do túi nâng ngực vẫn có mặt trên thị trường.
Khi túi nâng ngực gây nên vấn đề, thì thực ra là vấn đề gì? Tất cả bắt đầu từ chính cuộc phẫu thuật. Nhiều phụ nữ chưa từng trải qua trạng thái gây mê toàn thân. Chỉ riêng việc gây mê cũng có thể gây chấn thương và trở thành tác nhân kích hoạt thứ nào đó ẩn sâu trong cơ thể họ rồi cuối cùng biến thành bệnh túi nâng ngực.
Sau đó, họ được đặt một vật thứ ngoại lai (túi nâng ngực) vào cơ thể. Chi riêng điều này cũng có thể gây giảm sút và suy yếu hệ miễn dịch. Nó chẳng khác nào tấm kim loại được dùng trong hộp sọ ở những ca chấn thương đầu, hay đai ốc, vít và thanh titan được dùng khi thay khớp gối và khớp hông; hay tấm đánh dấu được đặt trong mô vú để theo dõi u nang, nốt phồng hay sự hình thành vôi hóa. Bất cứ thứ nào được cấy vào cơ thể cũng có thể gây ra phản ứng bên trong và phản ứng xảy ra như thế nào ở mỗi người mỗi khác. Sự hiện diện của một túi nâng ngực – dù không bị rò rỉ – cũng có thể dần dần làm suy yếu hệ miễn dịch ở nhiều phụ nữ. Cặn lắng từ lớp vỏ túi nâng ngực – ngay cả khi chất làm đầy túi nâng ngực không bị rỉ ra – có thể khiến hệ miễn dịch suy yếu. Bản thân việc phẫu thuật cũng làm hệ miễn dịch yếu đi. Túi ngực không nhất thiết phải rò rỉ mới gây nên vấn đề.
Hãy quan sát kỹ hơn cặn bã từ túi nâng ngực. Cặn lắng có thể dẫn dà nhả khí và xói mòn khi hơi amonia và axit trong cơ thể tiếp xúc với túi nâng ngực. Lúc này những chất bên trong túi nâng ngực còn chưa bị rò rỉ, mà chỉ là vỏ ngoài túi bị ăn mòn mà thôi. Hầu hết mọi người đều có độ axit cực kỳ cao. Máu họ chứa đầy chất béo do chế độ ăn giàu chất béo. Họ còn sống nhờ giấm và cafein. Nồng độ axit trong máu họ cực kỳ cao, và chất béo trong máu cũng cực kỳ cao. Chất béo lại rất dễ thấm hút. Khi chất béo có mặt trong máu, nó sẽ hút lấy mọi thứ, hệt như miếng bọt biển. Chất béo trong máu có khả năng hút lấy độc tố hóa học trong vỏ túi nâng ngực, từ đó khiến hệ miễn dịch yếu đi. Hàm lượng chất béo cao không cho phép những thứ bên trong một túi nâng ngực bị rỉ thoát ra khỏi cơ thể; những hóa chất đó sẽ cứ thế tuần hoàn cho tới khi tìm được một nơi trú ngụ.
Những tác nhân kích hoạt từ cuộc sống – như sự phản bội, căng thẳng quá độ, chia tay, ly hôn, căng thẳng về tài chính, những khó khăn và mất mát – cũng có thể dẫn đến một hệ miễn dịch suy giảm bởi chúng là những tác nhân gây căng thẳng đối với tuyến thượng thận. Chính lúc ấy, nếu tuyến thượng thận đang trong tình trạng “chiến đấu hay bỏ chạy“, thì adrenaline có tính ăn mòn cực kỳ ghê gớm sẽ bắt đầu bào mỏng lớp ngoài túi nâng ngực, khiến vỏ túi bị mòn đi.
Khi túi nâng ngực bắt đầu rỉ ra, mức đô rò rỉ nhanh hay chậm tùy thuộc vào độ axit của môi trường nội cơ thể người đó, cũng như lượng adrenaline trong máu sinh ra do phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy”. Những yếu tố trên thậm chí còn có thể quyết định việc liệu túi nâng ngực có bị rò rỉ hay không.
Dù túi nâng ngực bị rò rỉ hay xói mòn (hoặc cả hai), thì sự suy yếu của hệ miễn dịch tại thời điểm đó mới là yếu tố then chốt trong bệnh túi nâng ngực. Tình trạng xói mòn/rò rỉ sẽ khiến hệ miễn dịch gặp khó khăn, vì các tế bào miễn dịch sẽ phải cố gắng ngốn ngấu mọi vật chất độc hại của túi nâng ngực. Hệ miễn dịch suy yếu còn cho phép các vấn đề liên quan đến virus và vi khuẩn nảy sinh – và các virus như EBV là nguyên nhân hàng đầu ở bệnh túi nâng ngực. Nhiều người mắc bệnh túi nâng ngực chỉ vì tình trạng xói mòn và túi nâng ngực còn chưa hề rò rỉ. Hoặc, khi túi nâng ngực rốt cuộc cũng bị rỉ ra, họ có thể bắt đầu gặp phải các triệu chứng như mệt mỏi, sương mù não, tăng cân, chướng bụng đầy hơi, đục dịch kính, chóng mặt, hoặc đau người từ trước khi tình trạng rò rỉ diễn ra – bởi túi nâng ngực bị mòn trước rồi mới bị rỉ.
Chúng ta cũng cần tính đến việc hệ miễn dịch suy giảm định kỳ trong suốt chu kỳ kinh nguyệt và chu kỳ sinh sản. Đến 80% hệ miễn dịch được dành cho hệ sinh dục trong suốt kỳ kinh nguyệt, khiến hệ miễn dịch tổng thể suy yếu vào giai đoạn đó. Trong kỳ rụng trứng, 40% hệ miễn dịch được dành cho hệ sinh dục. Trong thời kỳ mang thai, 50% hệ miễn dịch dành cho thai nhi. Khi sinh sản, 90% hệ miễn dịch được dành cho việc sinh em bé. Khi túi nâng ngực cũng đồng thời bòn rút hệ miễn dịch, chúng ta sẽ có nhiều nguy cơ phát triển các mầm bệnh (như virus) hơn.
Một lần nữa, virus là nguyên nhân hàng đầu trong bệnh túi nâng ngực. Khi chưa đặt túi nâng ngực, phụ nữ vốn đã phải chật vật vì các triệu chứng và tình trạng do EBV, virus zona và herpes simplex gây ra chẳng hạn như viêm tuyến giáp Hashimoto, châm chích và tê bì, chóng mặt, ù tai, đục dịch kính, đau người, mệt mỏi, ban đỏ hệ thống, đau xơ cơ, bệnh Lyme thần kinh. Vì thế, rủi ro phát sinh bệnh tật khi đặt túi nâng ngực càng cao hơn, bởi túi nâng ngực là một tác nhân kích hoạt khác gây tổn thương hệ miễn dịch để EBV và virus zona tạo nên các vấn đề thần kinh.
Hội chứng mệt mỏi thần kinh do bệnh túi nâng ngực, chẳng hạn vậy, thực ra là một tình trạng nhiễm virus quá mức vì hệ miễn dịch bị tổn thương do túi nâng ngực rò rỉ hoặc tương tác với lượng chất béo cao trong máu. Đây là lý do tại sao một số phụ nữ không nhiễm nhiều chủng EBV, virus zona, virus cytomegalo hoặc virus simplex – tức là, những phu nữ chỉ nhiễm virus cấp thấp có thể gặp vấn đề túi nâng ngực rò rỉ hoặc xói mòn nhưng vẫn chơi được quần vợt, bơi lội ở bãi biển dưới nắng nóng 32°C, chạy bộ, uống rượu, uống cà phê, và sống thoải mái mà không hề biết túi nâng ngực đã bi rò ri/xói mòn. Chất làm đầy túi nâng ngực cũng có thể bị rỉ và chệch đi vài phân so với túi nâng ngực, còn túi nâng ngực bị xói vào máu – tình trạng có thể diễn ra suốt nhiều năm mà người đó không hề hay biết. Đến cuối cùng, nếu EBV trong cơ thể họ “bừng tỉnh” – hoặc họ nhiễm chủng EBV mới, virus zona mới hay herpes simplex mới do ăn uống tại nhà hàng hay thông qua mối quan hệ mới – đó là khi hệ miễn dịch bị đẩy đi quá giới hạn, rồi lũ virus lợi dụng ngay cơ hội đó.
Khi túi nâng ngực bị bào mòn, thấm qua, vỡ ra hay rò rỉ, hệ miễn dịch sẽ suy yếu thêm nữa vì các độc tố bên trong túi nâng ngực. Chất làm đầy trong đó thường chứa kim loại nặng độc hại dung môi và formaldehyde. Khi những chất độc đó đi vào máu, chúng có thể tiếp nhiên liệu và nuôi dưỡng virus.
Loại nhiên liệu kiêm thực phẩm này có thể nuôi sống virus gây mụn rộp tức herpes simplex 1 – dẫn đến đau dây thần kinh sinh ba, đau cổ, đau miệng, đau răng, đau nướu, hoặc đau vai (dù có kèm vết rộp hay không). Hoặc, chất làm đầy độc hại trong túi nâng ngực có thể nuôi dưỡng virus zona, dẫn tới đau hàm, rát miệng, đau răng, đau nướu, đau cổ, đau đầu hay đau vai. Hoặc nó có thể nuôi dưỡng EBV, dẫn tới đau người, mệt mỏi, châm chích và tê bì, tiếng rung trong tai, đục dịch kính, rát da và sương mù não. Các chất độc (như kim loại nặng độc hại) trong túi nâng ngực vừa có thể nuôi sống virus đang hoạt động, từ đó làm trầm trọng thêm các triệu chứng; vừa có thể tăng thêm nhiều triệu chứng mới, hoặc kích hoạt những virus đang ngủ im, tạo nên nhiều triệu chứng ban đầu.
Ngoài việc tiếp nhiên liệu cho virus, những chất độc này còn lập tức gây hại cho cơ thể. Chúng khiến hệ miễn dịch suy yếu, đặt gánh nặng lên nhiều cơ quan như gan (khiến gan tắc nghẽn, trì trệ, từ đó dẫn tới tăng cân), đồng thời gây căng thẳng lên tuyến thượng thận vì mọi loại độc tố đều kích khởi một phản ứng dị ứng nội thúc đẩy tuyến thượng thận giải phóng adrenaline, khiến nhịp tim tăng nhẹ. Tất cả những điều này có thể đẩy nhanh những triệu chứng mà đáng lẽ nhiều năm sau mới xuất hiện. Một phụ nữ mắc bệnh túi nâng ngực ở độ tuổi 30 và hiện nhận phải chẩn đoán bệnh Lyme thần kinh, ban đỏ hệ thống, viêm tuyến giáp Hashimoto, vấn đề tăng cân, hoặc những tình trạng da mà rất có thể đáng lẽ phải tới đầu những năm 50 tuổi mới bắt đầu phát sinh. Bệnh túi nâng ngực có thể rút ngắn thời gian, đẩy nhanh một tình trạng nhiễm virus mà đáng lẽ phải nhiều năm, hoặc nhiều thập kỷ sau mới phát triển thành vấn đề thần kinh.
Nếu túi nâng ngực bạn đặt có vẻ bền chắc và các triệu chứng chưa phát sinh, bạn có thể để yên chúng ở đó cho đến khi quyết định lấy ra ngoài. Nếu túi nâng ngực không bị nứt vỡ, rò rỉ hay gây nên các triệu chứng, bạn có thể tìm cách tăng cường hệ miễn dịch như một biện pháp phòng ngừa và áp dụng bất cứ phương án thanh lọc nào trong bộ sách này để loại bỏ độc tố. Nếu bạn và bên cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tin rằng túi nâng ngực bạn đặt có dấu hiệu rò rỉ, hãy thoải mái thử nghiệm bất cứ công cụ nào trong cuốn sách này và cuốn sách song hành với nó, đồng thời tìm kiếm giải pháp xử lý cùng với bác sĩ.
Những công cụ này cũng là một lựa chon nếu bạn đã gỡ bỏ túi nâng ngực mà vẫn bộc lộ nhiều triệu chứng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Túi Nâng Ngực trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

20. Chứng cuồng ăn

Nguyên nhân: tham khảo chương 33
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ Rối loạn ăn uống trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

21. Tình trạng suy kiệt

Nguyên nhân: tham khảo chương 7
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ Tình trạng suy kiệt trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

22. Bệnh teo não

Mặc dù bệnh teo não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi từ trẻ tới già, nhưng phổ biến nhất ở những người trên 40. Các nghiên cứu y khoa thường cho rằng chấn thương, đột quỵ hoặc quá trình lão hóa tự nhiên là nguyên nhân dẫn tới tình trạng co rút não này. Hoàn toàn không phải vậy. Thực sự thì, nguyên nhân chính gây teo não là do các tế bào não mất khả năng tiếp nhận lượng đường thích đáng và khôi phục kho dự trữ glycogen để duy trì sức mạnh cho mô não.
Mô liên kết não chủ yếu được hình thành từ glycogen (glucose được lưu trữ). Glucose không chỉ là thức ăn của tế bào não, mà còn là môi trường sinh sản đối với chúng. Một tế bào não cần môi trường chứa lượng đường khả dụng phong phú để sinh sôi. Đây là lý do tình trang teo xảy ra ở bất cứ khu vực não nào cũng đồng nghĩa với việc khu vực đó thiếu hụt glucose. Nếu glucose không đi vào tế bào não để nuôi dưỡng, duy trì sự sống và tái bổ sung cho chúng, điều đó có nghĩa rằng kho dự trữ glucose đang sụt giảm. Hậu quả là, các tế bào não bắt đầu co giảm kích thước và cuối cùng mau chóng chết đi.
Thường thì, một chế độ ăn giàu protein và giàu chất béo suốt nhiều năm sẽ gây nên tình trạng kháng insulin trong não – chất béo ngăn chặn đường xâm nhập tế bào não. Chúng ta không cần phải mắc tiểu đường thì tình trạng kháng insulin đặc biệt này mới xảy ra. Nếu não không nhận được lượng glucose cần thiết, nó sẽ thiếu hụt nhiều vitamin, khoáng chất, chất chống oxy hóa, hợp chất hóa chất thực vật, oxy và nhiều dưỡng chất khác mà glucose vận chuyển tới cho não. Dưỡng chất và glucose đi vào não như một thể thống nhất, trong khi chất béo không thể chuyên chở các dưỡng chất đó. Vì thế, nếu glucose quý giá bị ngăn cản tiến vào não, thì các khối xây dựng quý giá khác cũng thế – điều này góp phần khiến bệnh teo não càng thêm trầm trọng.
Đế có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cu thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị bệnh Teo Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.
Thiếu oxy cũng là một yếu tố khác góp mặt trong bệnh teo não. Chi tiết trong mục Tình Trạng Thiếu Oxy Não.

23. Tình trạng thiếu oxy não

Não không thể sống thiếu oxy quá lâu. Thậm chí một khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi không có oxy cũng có thể gây thiệt hại cho não. Điều tương tự cũng diễn ra khi não nhận được ít oxy, như ở tình trạng thiếu oxy não. Đây là hậu quả trực tiếp đến từ nguyên nhân mà hiện nhiều người đều biết: Tình trạng thiếu oxy não gây ra nhiều vấn đề, trong đó có tình trạng tế bào chết đi, mô não teo nhỏ và đột quỵ.
Nhưng điều họ chưa biết là nhiều người đang sống nhờ các chế độ ăn gây nên tình trạng thiếu oxy não cấp thấp và mạn tính. Tình trạng này chưa đủ để tạo ra tổn thương đáng kể trong ngắn hạn, nhưng nó tăng tiến theo thời gian – não có thể bị tổn hại nếu nhiều năm trôi qua mà người đó vẫn kiên trì với chế đô ăn giàu chất béo. Hàm lượng chất béo trong máu càng cao, nồng độ oxy càng thấp. Mặc dù thực sự là oxy vẫn tới được não trong chế độ ăn giàu chất béo, nhưng nhiều cơn đột quỵ sẽ xảy đến sau nhiều năm tình trạng tích tụ diễn ra trong động mạch và các mạch máu nhỏ khác. Sự tích tụ đó – phát sinh do chất béo và độc tố đóng cứng thành mảng bám – sẽ làm giảm lượng máu chảy tới não. Vì thế, chất béo dư thừa trong chế độ ăn đồng nghĩa với nồng độ oxy thấp hơn trong não và ít máu tới được não hơn – tức là ít oxy tới não hơn.
Gần như người nào bạn gặp cũng đều áp dụng chế độ ăn giàu chất béo theo cách này hay cách khác, dẫn tới sự suy giảm oxy bí ẩn trong não. Ngay cả khi xét nghiệm oxy cho thấy nồng độ oxy của bạn đầy đủ, thì xét nghiệm đó cũng không phát hiện được sự sụt giảm oxy tinh vi ở hệ thần kinh trung ương; và kết quả xét nghiệm cũng không đồng nghĩa với việc não nhận được lượng oxy đầy đủ mà nó cần. Quả thực, tập thể dục có thể giúp nạp thêm oxy vào cơ thể. Nhưng nó lại không trừ khử được những gì xảy ra do chế độ ăn giàu chất béo. Khi tràn vào máu, chất béo làm giảm bớt không gian khả dụng dành cho oxy; vì thế, oxy bắt đầu cuộn xoáy và tụ lại ở nhiều nơi, thay vì phân tán đồng đều. Những nơi oxy tụ lại rất ngẫu nhiên – không thể dự đoán được vì oxy bị chất béo xô đẩy vòng quanh và chèn ép.
Bộ não có thể thích ứng với tình trạng phân bố oxy bất đồng đều và thu nhận lượng oxy thấp trong một thời gian dài – tới mức độ nào đó. Và rồi, dần dà, tình trạng teo não xảy ra. Với loại thiếu oxy mạn tính chưa được phát hiện này – chứ không phải tình trạng tế bào não chết đi mau chóng và ác liệt – một quá trình co rút não chầm chậm diễn ra. Không nhận được đủ lượng oxy suốt nhiều năm ròng, não chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc thu nhỏ kích thước để thích ứng với lượng oxy thấp mà nó đã bị huấn luyện phải nhận. Chưa kể tới, glucose, vốn hỗ trợ vận chuyển oxy tới não, lại không có mặt trong chế độ ăn giàu chất béo – tình trạng này càng trầm trọng thêm vấn đề.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị tình trạng Thiếu Oxy Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

24. Bại não / liệt não

Trong những ca bại não không lý giải nổi – nghĩa là các trường hợp không thể giải thích được bằng một chấn thương đã được chẩn đoán và ghi nhận đối với vùng não chịu trách nhiệm kiểm soát vân động – thì kim loai nặng độc hại là nguyên nhân. Khi kim loại năng (như thủy ngân) bão hòa các vùng não (như vỏ não vận động sơ cấp) chúng có thể gây tổn thương những tế bào thần kinh chịu trách nhiệm cho các triệu chứng bại não.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bại Não/Liệt Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

25. Bệnh mạch não

Mặc dù liên quan tới tim và não nhưng bệnh mạch não lại bắt nguồn từ gan – và chủ yếu phát sinh do một chế độ ăn giàu chất béo. Khi bị chất béo bão hòa quá mức, gan mất đi khả năng hấp thụ độc tố và kiểm soát virus để bảo vệ bạn. Khi gan yếu đi, virus bắt đầu giành quyền kiểm soát, giải phóng rác thải độc hại vào máu, từ đó vấy bẩn dòng máu vốn đã đẩy ứ những độc tố mà gan không thể kìm giữ nữa. Nếu người đó cứ tiếp tục tiêu thụ nhiều chất béo – bắt kể họ chọn theo chế độ ăn nào – thì máu sẽ duy trì tỷ lệ chất béo cao. Điều đó gây nên tình trạng mất nước mạn tính, cao huyết áp, hoặc máu bẩn quánh đặc, rồi rốt cuộc dẫn tới tình trạng tích tụ chất béo ôi thiu, cholesterol và mảng bám trong tinh mach và động mạch. Tình trạng này làm giảm lưu lượng máu tới não. Cùng lúc ấy, máu tới não liên tục chứa đầy chất béo và độc tố (như độc tố thần kinh của virus), từ đó dẫn tới tình trạng viêm não. Tất cả những điều này, đến cuối cùng, sẽ dẫn tới yếu chi, cơn thiếu máu não thoáng qua, thậm chí đột quỵ.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Mạch Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

26. Rối loạn giận dữ mạn tính

Nếu rối loạn căng thẳng hậu chấn tâm lý (PTSD) đã bị loại trừ, tức là nếu xác định được rằng tổn thương từ sự ngược đãi hoặc khốn khổ trong quá khứ không phải nguyên nhân gây nên rối loạn cáu giận mạn tính của một người – nói đúng hơn, nguyên nhân không lý giải nổi – thì kim loại nặng độc hại bão hòa các vùng cảm xúc của não, cộng với lá gan trì trệ và chậm chạp, chính là nguyên nhân sâu xa.
Bạn cũng có thể mắc phải cả ba vấn đề: Chấn thương, kim loại và là gan trì trệ, chậm chạp, quá tải và làm việc quá sức. Nếu một người gần như vừa có là gan trì trệ, vừa trải qua tình trạng ngược đãi tinh thần, lại vừa phơi nhiễm kim loại nặng độc hại, thì cơn cáu giận mạn tính sẽ bùng nổ dữ dội và thường xuyên hơn. Chẳng hạn, nếu ai đó vừa mới đi lấy vài miếng trám răng thủy ngân (thủ thuật này khiến kim loại mất ổn định), đồng thời nhận được tin tức tệ hại vô cùng vào ngày đó hoặc tuần đó, thì tác động từ cảm xúc khó khăn ấy cộng với sự phơi nhiễm thủy ngân có thể dẫn đến các triệu chứng thất vọng và cáu giận nghiêm trọng hơn nếu thủy ngân bão hòa các trung khu cảm xúc não.
Thủy ngân bão hòa các vùng nào khác có thể dẫn đến nhiều triệu chứng thần kinh khác, như mệt mỏi. Thường thì, giận dữ mạn tính phát sinh do phơi nhiễm kim loại nặng độc hại từ lâu trước đó, hồi thơ ấu. Khi người đó nhiều tuổi hơn, kim loại già cỗi và oxy hóa, khiến tình trạng cáu giận mạn tính trở nên tồi tệ hơn theo thời gian.
Không khỏe mạnh về mặt thể chất có thể khiến người ta cáu giận. Nếu bạn đau ốm triền miên, đồng thời gặp phải bất cứ yếu tố nào – như chấn thương, kim loại nặng độc hại, hay lá gan quá tải – thì cảm giác ốm yếu khôn nguôi có thể hoạt động như một tác nhân kích thích những căn nguyên sâu xa của tình trạng cáu giận mạn tính.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối Loạn Giận Dữ Mạn Tính trong trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

27. Cảm giác tỗi lỗi bí ẩn triền miên

Trong trung khu cảm xúc não, một số vùng mô thần kinh phần nào chịu trách nhiệm cho cách thức cảm nhận của chúng ta. Nhưng không chỉ một mình mô đó. Trung khu cảm xúc não còn gắn kết sâu sắc với linh hồn ta. Nếu một người cảm thấy tội lỗi vì điều họ đã làm nhưng hành động đó phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ, thì linh hồn họ sẽ bị ràng buộc với phản ứng cảm xúc ấy trong não bộ. Nếu ai đó không bao giờ cảm thấy tội lỗi ngay cả khi ho đáng lẽ phải ăn năn – để họ có thể học hỏi, trưởng thành và giúp người khác tìm cách giải quyết – thì sự mất kết nối sẽ xảy ra. Thứ nhất, đó là sự đứt kết nối giữa linh hồn và trung khu cảm xúc của não: linh hồn bị đẩy ra khỏi não bộ. Thứ hai, luôn tồn tại sự phơi nhiễm độc hại nào đó trong trung khu cảm xúc não khiến các tín hiệu điện mất kết nối. Khi kim loại nặng độc hại (như thủy ngân và nhôm) chiếm cứ khu vực ấy, chúng có thể ngăn trở các cảm xúc như thương cảm, đồng cảm, trắc ẩn và ăn năn nảy nở khi người đó gây hại cho ai khác. Điều này cũng đồng nghĩa với việc người đó sẽ không bao giờ hối lỗi về những gì bản thân đã làm – bởi vì kim loại nặng đánh chệch hướng các xung điện, không bao giờ để chúng tới được vùng tội lỗi trong não, mà đó là một trong những vùng linh hồn liên kết với mô thần kinh. Đó chính là một phần trong não giúp con người có được lương tâm.
Vậy khi cảm xúc tội lỗi quá độ thì sao? Nếu kim loại nặng độc hại bão hòa nhiều vùng khác nhau trong trung khu cảm xúc não, chúng có thể khiến các xung điện tràn sang mô não lân cận – mà nếu đó là vùng kiểm soát sự ăn năn, thì cảm giác tôi lỗi sẽ gia tăng. Điều nhỏ nhất mà một người làm, như mượn một xu từ hũ gom tiền xu ở cửa hàng tiện lợi, cũng có thể khiến họ chìm trong tội lỗi. Bận suốt cả ngày đến mức không kịp goi lại cho bạn bè – ngay cả khi người bạn đó thông cảm vô cùng – cũng có thể khiến ai đó cảm thấy tôi lỗi ghê gớm tới mức đau khổ, buồn bã và suy sụp. Thế rồi, nếu chuyện thực sự đáng ân hận xảy ra – nếu người đó phạm lỗi thực sự – những nỗ lực thấu hiểu của họ có thể bị gia tăng tới mức ám ảnh hoặc giận dữ, thậm chí gây hại cho họ trong một số trường hợp. Nếu linh hồn người đó bị chấn thương do từng bị ngược đãi, gặp trắc trở, bị phản bội, hay bị dối lừa, nó có thể khiến tình huống càng thêm khó khăn và phản ứng tội lỗi càng tệ hại. Hoặc khi phản ứng bùng nổ theo hướng ngược lại – khi cơn giận và sự tê liệt tràn ngập, triệt tiêu toàn bộ cảm giác tội lỗi, rồi chúng tiêu tan và cảm giác tội lỗi quay trở lại.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ dành cho Cảm Giác Tội Lỗi Bí Ẩn Triền Miên trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

28. Hội chứng Cushing

Rất nhiều triệu chứng, đến từ rất nhiều chẩn đoán, được xếp loại vào bệnh Cushing, bất kể người đó có mắc u nang tuyến yên hay không.
Bệnh Cushing thực sự hiếm gặp hơn chúng ta tưởng. Cushing thực ra là hậu quả của tình trạng nhiễm virus lâu dài: EBV là virus gây nên u nang hoặc u bướu nằm trên hoặc nằm gần tuyến yên, khiến tuyến này sản xuất quá dư thừa hormon adrenocorticotropic (ACTH). Tình trạng này khiến tuyến thượng thận bị kích thích quá độ, làm tuyến này tiết cortisol quá mức.
Vậy tại sao bệnh nhân lại bị chẩn đoán nhám thành bệnh Cushing? Tại sao nồng độ cortisol lại tăng, nếu không phải mắc bệnh Cushing? Trước hết, đừng quên rằng trong nhiều trường hợp, chỉ riêng chế độ ăn và lối sống đã khiến tuyến thượng thận sản xuất dư thừa cortisol. Hơn nữa, chế độ ăn giàu chất béo và lá gan suy yếu vốn gây cao huyết áp, tăng cân, vấn đề về da và mất cơ cũng có thể trông như bệnh Cushing.
Thêm vào đó, EBV có thể gây u nang và u bướu trên tuyến yên hoặc hố yên nhưng không kích hoạt sản xuất ACTH – ấy thế mà, lượng cortisol vẫn có thể tăng vọt do tình trạng nhiễm virus từ trước đã làm gan suy yếu và khiến bác sĩ nhầm lẫn rằng người đó mắc bệnh Cushing. EBV gây u nang hoặc u bướu tuyến yên phi Cushing trong não cũng có thể khu trú trong gan và nhiều vùng khác của cơ thể (như lá lách), sản sinh lượng lớn độc tố thần kinh và gây căng thẳng lên hệ thần kinh trung ương, từ đó dẫn tới mệt mỏi, đồng thời buộc tuyến thượng thận làm việc vất vả hơn và gia tăng sản xuất cortisol.
Các nghiên cứu y khoa có xu hướng đổ lỗi toàn bộ lượng cortisol dư thừa này là do tuyến yên sản sinh quá nhiều ACTH mà không nhận ra rằng còn nhiều vấn đề khác góp mặt – một tình trạng nhiễm virus mạn tính kết hợp với lá gan vất vả, mệt mỏi, không thể hấp thụ cortisol (hoặc adrenaline) dư thừa thêm nữa đã khiến hormon căng thẳng kia tràn ngập trong máu.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Hội Chứng Cushing trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

29. Sa sút trí tuệ

Tham khảo chương 36
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh ALZHEIMER trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

30. Hội chứng giải thể nhân cách

Không ai muốn mắc chứng giải thể nhân cách. Tê liệt không phải điều ai đó muốn miêu tả người khác hay tự mình cảm nhận. Người mắc chứng giải thể nhân cách thường cảm thấy như mình không hề trải nghiệm những thứ vừa diễn ra. Đó gần như một dạng tê liệt, hay mất năng lực kết nối với những sự vật, sự việc xung quanh. Họ có thể đang đứng kế bên người bạn mà họ cùng đi bộ đường trường để ngắm cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp, nhưng lại cảm thấy mất kết nối với tất cả. Cảm giác có thể như sự mất kết nối với chính mình – mất kết nối ở góc độ tâm linh. Họ đang quan sát cuộc sống từ một góc độ như thể họ không hề có mặt. Nếu từng trải nghiệm chứng giải thể nhân cách, có lẽ bạn cũng từng nghe bảo rằng bạn cần “tìm lại chính mình”.
Chứng giải thể nhân cách ở người này sẽ rất khác với người khác. Đó là khoảng xám rộng lớn tiếp giáp ngưỡng trầm cảm và chứng lo âu. Dạng giải thể nhân cách kinh điển là mất năng lực cảm nhận cảm xúc. Bạn có thể hoàn toàn chết lặng, không gì có thể làm bạn thấy phấn khích, đau khổ, quan tâm hay hứng thú, và bạn cảm thấy như thể mình không có mặt trong cơ thể này và mình không hề tồn tại. Ngay cả ở dạng giải thể nhân cách kinh điển này, cũng có rất nhiều biến thể.
Lý do khiến trải nghiệm giải thể nhân cách quá mức biến động như thế là vì hàng loạt nguyên nhân. Những nguyên nhân này trải rộng từ chấn thương cảm xúc, kim loai nặng độc hại, mệt mỏi tuyến thượng thận, suy kiệt não, tới nhiễm virus cấp thấp; hoặc tất cả các yếu tố trên. Mỗi nguyên nhân lại biến đổi rất khác nhau. Chẳng hạn, liên quan đến kim loại nặng độc hại, có rất nhiều khác biệt từ người này qua người khác về chủng loại kim loại trong não, chúng nằm ở những đâu và có gần trung khu cảm xúc não hay không; tốc độ oxy hóa của kim loại đó và liệu còn có chất độc, dung môi hay phơi nhiễm nào khác góp mặt không.
Tình trạng sương mù nào có lộ diện kèm chứng giải thể nhân cách hay không? Đó lại là một yếu tố biến thiên nữa. Tình trạng nhiễm virus cấp thấp (như EBV) có thể khiến sương mù não thêm tồi tệ, càng gia tăng chứng giải thể nhân cách. Các biến số gần như vô hạn. Lượng kim loại nặng độc hại góp mặt là bao nhiêu? Có xuất hiện tình trạng nhiễm virus cấp thấp không? Người bệnh phải trải qua chấn thương cảm xúc nào không?
Giải thể nhân cách cũng có thể xảy đến mà không có chấn thương/tổn thương cảm xúc. Một người có thể trông như đang sống cuộc đời hoàn hảo, không có mối lo ngại tài chính, không có căng thẳng, không áp lực, không âu lo, sở hữu cả một hệ thống yêu thương, hỗ trợ – nhưng vẫn mắc giải thể nhân cách nghiêm trọng. Người khác từng trải qua sự ngược đãi, nỗi khốn khổ và chấn thương cảm xúc nặng nề – nhưng không nhiễm kim loại nặng hay virus cấp thấp – có thể mắc giải thể nhân cách chỉ do các tổn thương cảm xúc mà thôi, nếu những tổn thương đó đủ trầm trọng. Người khác nữa có thể cũng chịu nhiều chấn thương cảm xúc nhưng không mắc giải thể nhân cách. Ngưỡng chấn thương cảm xúc ở mỗi người mỗi khác.
Đa số bệnh nhân giải thể nhân cách là sự kết hợp giữa chấn thương cảm xúc (dù nhẹ) với kim loại nặng độc hại (như thủy ngân và nhôm) trong não. Khi kim loại nặng bị tống khứ đi, người đó có thể thực sự hồi tưởng được những trải nghiệm mình đã bỏ lỡ và cảm nhận được chúng lần đầu tiên sau thời gian dài bệnh tật.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Hội Chứng Giải Thể Nhân Cách trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

31. Trầm cảm hay bức bối/ chán chường

Tham khảo chương 32
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Trầm Cảm trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

32. Gặp khó khăn trong ứng phó

Người ta không nên bị trách mắng nếu họ chật vật trong việc ứng phó thông thường. Những gì thực sự đang diễn ra với họ là hệ thần kinh nhạy cảm cùng các chất dẫn truyền thần kinh suy yếu. Người đó không yếu đuối. Bạn có thế là người mạnh mẽ nhất với bản tính, nhân cách, tinh thần và ý chí mạnh mẽ nhất – nhưng khi các chất dẫn truyền thần kinh bị ảnh hưởng, thì việc xử lý một số thách thức đời sống thường nhật sẽ trở nên khó khăn. Các rối loạn dẫn truyền thần kinh xảy ra phổ biến ở những ai đang phải đối mặt với ME/CFS hoặc bất cứ tình trạng tự miễn nào.
Tải lượng kim loại nặng độc hại và tải lượng virus kết hợp tạo nên rất nhiều độc tố thần kinh, từ đó gây suy yếu các chất dẫn truyền thần kinh. Khi tình trạng này diễn ra cùng với các vấn đề tuyến thượng thận và nhiều triệu chứng khác, nó có thể khiến bạn gặp khó khăn trong việc ứng phó với những yếu tố gây căng thẳng khác.
Bạn không nhất thiết phải nhận chẩn đoán mắc một tình trạng nào đó thì mới gặp khó khăn trong ứng phó. Kim loai nặng độc hại khu trú tại các vùng não hỗ trợ xử lý thông tin cảm xúc và duy trì sự cân bằng khi chèo lái qua các thách thức có thể biến những giai đoạn vốn khó khăn càng thêm khó khăn hơn. Kim loại nặng làm suy sụp và cản trở hoạt động dẫn truyền thần kinh. Điều này có thể khiến ai đó trốn tránh hoặc trì hoãn suốt một giai đoạn căng thẳng cảm xúc, từ đó dẫn tới việc họ cảm thấy không thể xem một tài liệu cần xem, liên lạc với người cần liên lạc – nói chung là “ứng phó.
Cũng có những trường hợp người bệnh rất thành đạt, với lòng quả cảm phi thường, trong một lĩnh vực cuộc sống nhưng lại có vết thương cảm xúc hoặc tổn thương tâm hồn do PTSD. Hãy thử nghĩ tới một siêu vận động viên với tính cách mạnh mẽ, thức dậy mỗi sáng sớm để chạy 20 dăm, nhưng khi bạn đề cập đến một chủ đề cụ thể nào đó, họ lại không thể ứng phó được. Một lần nữa, đó là do kim loại nặng nằm trong một có vùng não tạo nên những chướng ngại nhỏ. Điều này đặc biệt dễ xảy đến nếu người đó gặp chấn thương cảm xúc xoay quanh chủ đề bạn nhắc tới. Kim loại nặng và vết thương cảm xúc có thể tình cờ bắt cặp với nhau, khiến vết thương/chấn thương càng dễ kích hoạt hơn nhiều.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị tình trạng gặp khó khăn trong ứng phó trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

33. Rối loạn thần kinh thực vật

Tình trạng viêm mạn tính này phát sinh do độc tố thần kinh mà virus sản sinh (như EBV) thấm đẫm những vùng nào ảnh hưởng tới hệ thần kinh thực vật. Trong nhiều ca, tình trạng viêm này cực kỳ nhẹ, chỉ gây nên các triệu chứng như bồn chồn hoặc đổ mồ hôi quá mức. Một số ca nặng hơn chút xíu, với độc tố thần kinh bão hòa hệ thần kinh thực vật và hệ thần kinh trung ương tới mức gây nên các vấn đề về nhịp tim và huyết áp dao động thất thường – với huyết áp cực kỳ thấp hoặc tăng cao.
Hầu hết bệnh nhân mắc rối loạn thần kinh thực vật đều trải nghiệm nhiều triệu chứng khác của EBV, như hội chứng Raynaud, chóng mặt (tình trạng viêm dây thần kinh phế vị), ù tai, thậm chí vấn đề tuyến giáp. Các nghiên cứu y khoa chưa biết rằng tất cả các vấn đề này đều liên quan tới EBV; vì thế, khi phân loại rối loạn thần kinh thực vật như một tập hợp các triệu chứng tách biệt với những thách thức sức khỏe khác, họ không nhận ra rằng mọi vấn đề sức khỏe của người bệnh có lẽ đều liên quan tới cùng một căn nguyên virus.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối Loạn Thần Kinh Thực Vật trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

34. Chứng khó đọc

Mỗi ca mắc chứng khó đọc đều khác nhau; trải nghiệm của mỗi bệnh nhân là độc nhất vô nhị. Tất cả là vì nguyên nhân chứng bệnh: Sự tiếp xúc với kim loại nặng độc hại (như thủy ngân) hồi nhỏ, thậm chí trước khi chào đời, gây bão hòa một nhóm các vùng ngôn ngữ trong não, như vùng học tập, vùng thị giác và vùng nhận thức. Như bạn đã tìm hiểu trong chương 3, kim loại nặng không bao giờ tích tụ và tương tác trong não theo cùng một cách.
Chẳng hạn, một đứa trẻ có thể nhiễm ít nhôm nhưng nhiều thủy ngân hơn, hoặc nhiều nhôm và ít thủy ngân hơn, rồi các kim loại này nằm ở các vùng khác nhau – tất cả sẽ ảnh hưởng tới cách thức hình thành vấn đề đọc và viết của trẻ.
Thông thường, nếu trẻ có quá nhiều thủy ngân trong các khu vực xử lý của não, nếu tình trạng phơi nhiễm kim loại diễn ra liên tục, hoặc nếu chứng khó đọc mãi tới độ tuổi thanh thiếu niên mới được chẩn đoán, thì trẻ sẽ gặp khó khăn nhiều hơn và chứng bệnh này sẽ còn mãi nếu không áp dụng các bước tống khứ kim loại nặng. Ở nhiều ca khác, nếu tình trạng phơi nhiễm kim loại nặng xảy ra trong quá khứ nhưng không quá nghiêm trọng, đứa trẻ có thể thoát khỏi chứng khó đọc ở mức độ nào đó khi các tế bào thần kinh mới được tạo ra và bộ não thích ứng được. Khi chứng khó đọc được phát hiện sớm và trẻ được kèm cặp đặc biệt, điều này sẽ tạo nên khác biệt to lớn, bởi nó giúp bộ não non nớt phát triển quanh những chướng ngại vật kim loại nặng.
Ảnh quét chụp não ở trẻ mắc chứng khó đọc nặng kết hợp với OCD và ADHD đôi khi, hé lộ một phần bóng mờ trong não. Nguyên nhân là gì? Kim loại nặng độc hại kết hợp với mức độ hoạt động điện thấp hơn. Nếu các bác sĩ biết diễn giải bóng mờ và phần xám trên ảnh quét chụp, đây có thể là cánh cửa dẫn tới việc nhìn thấy rõ ràng bằng mắt những hố cặn kim loại lớn hơn.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Chứng Khó Đọc trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

35. Rối loạn ăn uống

Tham khảo chương 33
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ Rối Loạn Ăn Uống trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

36. Bệnh lý não (ENCEPHALOPATHY)

Bệnh lý não mô tả các triệu chứng xảy ra khi não gặp phải một số vấn đề không rõ nguyên nhân cụ thể. Các nghiên cứu y khoa còn chưa xác định được chính xác những gì gây nên rối loạn chức năng tổng thể ở não. Bệnh lý não là tên gọi chung nhiều triệu chứng và biến đổi bí ẩn trong não. Nếu ai đó phải hứng chiu một cơn đột quỵ hoặc u bướu não, rồi phát triển các triệu chứng liên quan tới hệ thần kinh trung ương – khi mà họ chật vật vì những thách thức tưởng như vẫn đề về não – thì lần đột quỵ và u bướu ấy sẽ được coi như nguyên nhân gây bệnh lý não.
Bất kể được chẩn đoán là hậu quả của đột quỵ hay u bướu, luôn tồn tại căn nguyên nền tảng nằm sâu bên trong. Căn nguyên này có thể xảy đến độc lập, hoặc kết hợp với nhau: (1) não thiếu hụt nghiêm trọng, (2) nhiễm virus, (3) kim loại nặng độc hại, (4) độc tố hóa chất.
(Khi một tải lượng virus gây bệnh lý não, tình trạng nhiễm virus đó có thể xảy ra ngay trong não; mặc dù vậy, virus thường trú ngụ ở các phần cơ thể khác, tác động tới não từ xa thông qua độc tố thần kinh, gây viêm não mạn tính cấp thấp.)
Khi hai người đều bị đột quỵ hoặc đều mắc u bướu nhưng chỉ một người phải chịu đựng các triệu chứng bệnh lý não, thì đó là vì người mắc bệnh nhiễm tải lượng virus, tải lượng kim loại nặng độc hại, tình trạng thiếu hụt não, hoặc tải lượng độc tố hóa chất (độc tố có thể đến từ dược phẩm) ẩn sâu bên trong.
Ở nhiều người, bệnh lý não phát triển nhiều năm sau một chấn thương hoặc tổn thương não. Một số khác có thể cũng trải qua chấn thương/tổn thương nào tương tự nhưng không phát sinh bệnh não. Hậu chấn thương, mô não của họ không tử vong nhanh như mô não của người bệnh. Sự khác biệt này phụ thuộc vào các nguyên nhân tiềm tàng khác hiện diện trong não – sự thiếu hụt nghiêm trọng, tình trạng nhiễm virus, kim loại nặng độc hại, và/hoặc độc tố hóa chất. Sự hồi phục mô não ở người này có thể khó khăn hơn người khác vì chính những yếu tố đó.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bênh Lý Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

37. Đổ mồ hôi quá mức (tăng tiết mồ hôi)

Tình trạng này xảy ra khi một phần não gắng sức quá mức, bởi tồn tại những trở ngại tí hon dưới dạng các khối tắc nghẽn bên trong và xung quanh các tế bào thần kinh, cộng với các chất dẫn truyền thần kinh suy yếu trong khu vực tắc nghẽn.
Các khối tắc nghẽn nhỏ xíu trong não thường là kim loại nặng độc hại. Chúng cũng có thể là hỗn hợp kim loại, cặn MSG, và/hoặc độc chất hóa học của bất cứ thứ gì từ thuốc diệt côn trùng tới chất khử mùi tạo hương. Kim loại nặng độc hại chiếm ưu thế trong tình trạng này là đồng. Đồng có trong hầu hết các công thức hóa học, và không thể phát hiện được trong não. Độc tính của đồng khó chẩn đoán hay phát hiện thông qua công nghệ y tế hiện thời.
Đồng là kim loại dẫn điện và cũng là kim loại nối đất. Đồng hút và dẫn dắt dòng điện. Nó cản trở các thông điệp được truyền gửi tới não. Đồng trong mô não sẽ đưa các thông điệp đi lạc vì hiệu ứng nối đất ghê gớm của nó. Chẳng hạn, khi ai đó đang nói chuyện với bạn, nhưng bạn bỗng trở nên lơ đãng trong một số hoàn cảnh vì đồng hút năng lượng khỏi các tế bào thần kinh vốn sẽ được nhận thông điệp ấy, từ đó kích hoạt phản ứng của hệ thần kinh giao cảm như đổ mồ hôi. Đồng còn cản trở thông điệp được truyền đi từ não. Ví dụ, nếu bạn đang nói chuyện với ai đó, khi ấy bạn sẽ nhận ý nghĩ từ các xung điện di chuyển qua tế bào thần kinh, còn đồng lại hút năng lượng từ các tế bào thần kinh đang chuyên chở thông tin. Bạn vẫn có khả năng trao đổi thông tin đó, nhưng hệ thần kinh giao cảm sẽ được kích hoạt trong quá trình ấy. Khi bạn cảm nhận được sức hút vật lý này, nó sẽ gia tăng nhận thức của bạn về một thứ đang hút cạn hệ thần kinh. Độc tính của đồng tràn ngập các tế bào thần kinh, gây suy yếu thậm chí hủy diệt – hóa chất dẫn truyền thần kinh. Tùy thuộc vào việc đồng khu trú tại vùng nào, đồng có thể hóa lạnh trong não, vì thế khi dòng điện va chạm với cặn đồng vi mô, vùng não đó sẽ giảm nhiêt nhiều hơn, từ đó làm suy yếu các tia lửa điện vận chuyển thông điệp.
Bởi vì đồng là kim loại nặng độc hại hàng đầu gây gián đoạn quá trình truyền gửi thông tin và tín hiệu qua các dây thần kinh giao cảm, nên sự hiện diện của đồng độc hại có thể tạo nên tình trạng tưởng như trạng thái “chiến đấu hay bỏ chạy” triền miên.
Các dây thần kinh khắp cơ thể sẽ nhận được thông điệp này từ não. Bộ não là một điện áp. Dòng điện đi qua não được dẫn dắt bởi các xung điện và tế bào thần kinh – các xung điện và tế bào thần kinh vốn có sức mạnh để vận chuyển và truyền gửi thông điệp đi toàn bộ dây thần kinh khắp cơ thể. Một số dây thần kinh có khả năng nối đất nhiều hơn các dây thần kinh khác, tức là chứng chuyển đổi điên thành năng lượng và tần số tiếp đất nhiều hơn. Các dây thần kinh giao cảm là những dây thần kinh nói đất. Chúng là những dây thần kinh nhỏ hơn và đặc hơn (trong khi vât liêu hình thành những dây thần kinh lớn hơn lại không đặc như thế). Khi đồng hiện diện trong não, nó phá hoại chức năng nối đất của hệ thần kinh giao cảm. Đồng sẽ nối đất những thông điệp đang di chuyển tới dây thần kinh giao cảm, dẫn đến sự thay đổi đột ngột. Các dây thần kinh giao cảm mất tính ổn định và không còn nối đất nữa. Những tín hiệu đứt gãy đến từ não này đủ để gia tăng tình trạng tiết mồ hôi.
Tuyến thượng thận cũng góp mặt. Não phát hiện ra vấn đề mất ổn định của các dây thần kinh giao cảm nên gửi thông điệp báo cho tuyến thượng thận. Kết quả là, phản ứng của tuyến thượng thận có thể tăng cường tình trạng tiết mồ hôi.
Hầu hết những người mắc tình trạng tăng tiết mồ hôi đều phải chịu đựng một dạng lo âu đi kèm, phần nào lo âu này đến từ chứng PTSD hình thành do chính trải nghiệm tiết mồ hôi quá mức. Nỗi lo âu xoay quanh việc không có khả năng biểu đạt bản thân có thể khiến tình hình thêm phức tạp bằng cách kích thích tuyến thượng thận. Khi ai đó rơi vào cảnh phải vật lộn để bày tỏ ý kiến, rồi nỗi lo âu gia tăng vì chứng PTSD xoay quanh nỗi sợ hãi rằng họ đang tự làm mình bẽ mặt vì đổ mồ hôi trong khi không hề muốn, thì tuyến thượng thận sẽ tiết ra adrenaline – chính điều đó lại khiến họ tiết mồ hôi nhiều hơn nữa. Vấn đề này càng gia tăng thêm các biến chứng của tình trạng tiết mồ hôi. Bạn có thể đổ mô hồi dù chỉ mới nghĩ tới chuyện phải nói điều gì đó, ngay cả khi bạn không cần lên tiếng.
Các virus cấp thấp như virus zona có thể đóng vai trò nào đó trong tình trạng này. Những người có virus zona khu trú ở gần các dây thần kinh sọ (như dây thần kinh phế vị hoặc dây thần kinh sinh ba), cộng với nhiễm lượng đồng cao, có thể khiến tình trạng tiết mồ hôi trở nên khó khăn hơn, thậm chí nghiêm trọng. Độc tố thần kinh sinh ra khi virus zona ngấu nghiến đồng cũng có thể góp phần vào các biến chứng của tình trạng này. Độc tố hóa học khác và MSG trong não cũng hợp sức với đồng và tình trạng nhiễm virus.
Nhiều người mắc tình trạng tăng tiết mồ hôi chọn phương án phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao cảm ngực nội soi (ETS). Một cuộc phẫu thuật thành công -rất hiếm gặp – có thể giảm bớt hoặc tối thiểu hóa tình trạng tiết mồ hôi – nhưng cũng có thể gây ra tác dụng phụ ngoài ý muốn. Phẫu thuật không giải quyết được vấn đề tiềm ẩn vốn gây nên tình trạng này. Đồng không bị tống khứ khỏi não; độc tố hóa học và MSG trong não không bị rút cạn. Hậu phẫu thuật, tình trạng có thể tăng lên cấp độ mới, gây nên nhiều triệu chứng khác hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng như nỗi lo âu gia tăng, trầm cảm và mệt mỏi – tất cả khơi dậy một nhận thức quan trọng: Những người mắc tình trạng tăng tiết mồ hôi, dù phẫu thuật hay không, đâu chỉ đối phó với duy nhất tình trạng đó. Họ còn phải chung sống với tình trạng mệt mỏi, sương mù não, chứng lo âu, trầm cảm, và/hoặc cảm giác cơ thể bất thường, và nhiều hơn nữa.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị tình trạng Tăng Tiết Mồ Hôi trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

38. Mệt mỏi

Xem Viêm Cơ Não Tủy Hội Chứng Mệt Mỏi Mạn Tính (ME/CFS).

39. Đau xơ cơ

Xem “Bệnh thần kinh”, “Đau dây thần kinh” và “Đau cơ và khớp”. Tìm hiểu thêm thông tin về bệnh đau xơ cơ, tham khảo thêm tại cuốn Cơ thể tự chữa lành 1 – Lý giải những căn bệnh bí ẩn và phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đau Xơ Cơ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

40. Các vấn đề về khả năng tập trung & chú ý

Có một nguyên nhân gây nên vấn đề về khả năng tập trung tương tự như những gì bạn đã tìm hiểu trong phần ADHD: Kim loại nặng (như thủy ngân và nhôm) trong kênh giữa não, hoặc rải rác khắp não – hoặc cả hai. Khi kim loại khu trú trong não, chúng thường gây suy yếu hoạt động điện, khiến não phải cố gắng thích ứng bằng cách gia tăng sản lượng điện, từ đó tạo nên những đợt minh mẫn ngắn ngủi. Điều này dẫn tới tình trạng nóng quá mức, nên não buộc phải chuyển sang trạng thái làm mát cao độ – hậu quả là giảm hoạt động điện, dẫn tới việc một người đột ngột rơi trở lại khoảng thời gian tập trung kém cỏi.
Các vấn đề về khả năng tập trung và chú ý còn có thể phát sinh do tình trạng nhiễm virus mạn tính, khi một virus như EBV ngấu nghiến kim loại nặng độc hại (như thủy ngân và nhôm), rồi giải phóng độc tố thần kinh – tới lượt mình, các độc tố thần kinh trôi nổi trong máu tới não, gây bão hòa các hóa chất dẫn truyền thần kinh xung quanh hoặc bên trên tế bào thần kinh. Khi tình trạng này xảy ra, xung điện chạy qua tế bào thần kinh đó sẽ bị đoản mạch vì các chất dẫn truyền thần kinh đã bị ô nhiễm, dẫn tới việc người đó gặp khó khăn khi theo dõi một nhiệm vụ hoặc duy trì cuộc trò chuyện.
Vấn đề đang diễn ra thời nay là làn sóng những hóa chất nguy hiểm mới được ngành công nghiệp hóa chất sản xuất mỗi ngày và được bơm vào môi trường để con trẻ và vật nuôi tiêu hóa và hít phải. Những vật chất hóa học độc hại đó không chỉ bổ sung kho nhiên liệu cho virus, mà còn tăng cường độc tính đối với tế bào thần kinh, hợp sức với kim loại nặng độc hại đang hiện diện và trầm trọng hóa các vấn đề về khả năng tập trung/chú ý mà người đó đang mắc phải.
Có lúc, khả năng tập trung/chú ý dường như bỗng nhiên được cải thiện; lúc khác, nó lại xấu đi. Một lý thuyết đưa ra rằng đường ruột liên quan mật thiết tới não bộ, nên làm sạch đường ruột nghiễm nhiên sẽ cải thiện được mức độ minh mẫn tâm thần. Đây là một lý thuyết sai lệch. Nguyên nhân thực sự khiến một người có thể tập trung dễ dàng hơn khi bắt đầu ăn uống lành mạnh hơn là vì việc loại bỏ thực phẩm độc hại đã giúp loại bỏ nhiên liệu của virus, từ đó giảm bớt độc tố thần kinh cản trở hoạt động của não hơn. Vấn đề hoàn toàn không phải là làm sạch đường ruột và khôi phục sự cân bằng vi sinh đường ruột. Điều này cũng giải thích tại sao rất nhiều người không khỏe mạnh, với đường ruột hỗn độn chứa đầy vi khuẩn độc hại, men, nấm và mốc nhưng lại không mắc vấn đề về khả năng tập trung chú ý. Người khác có thể nhận được kết quả đường ruột khỏe mạnh từ bác sĩ chuyên khoa ruột – mẫu phân xét nghiệm của họ không gióng lên cảnh báo nào; họ tuân thủ một chế độ ăn rất lành mạnh và không dùng thực phẩm chế biến sẵn; họ cũng không có dấu hiệu nào của vấn đề mà các bác sĩ thường nói là hoạt động của ký sinh trùng hay nhiễm nấm Candida – ấy thế mà, họ vẫn suy yếu vì các vấn đề về khả năng tập trung/chú ý.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Sương Mù Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

41. Liệt dạ dày

Tham khảo chương 6
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ Liệt dạ dày (dạng nhẹ)Liệt dạ dày (dạng nặng) trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

42. Hội chứng GUILLAIN-BARRÉ

Tình trạng này vẫn bị các nghiên cứu y khoa hiểu nhầm rất lớn. Lý thuyết về hội chứng Guillain-Barré cho rằng hệ miễn dịch của cơ thể tự tấn công chính các tế bào dây thần kinh, gây nên tổn thương mà sau này dẫn tới bại liệt. Quan niệm tự miễn sai trái này là một nhầm lẫn hiện diện trong hàng trăm nhãn triệu chứng và bệnh trạng thuộc ngành công nghiệp y tế. Trên thực tế, cơ thể không tấn công chính nó, và hệ miễn dịch của cơ thể không tấn công các dây thần kinh. Nguyên nhân thực sự gây nên Guillain-Barré là virus. Cụ thể, một số chủng EBV thường bám vào các dây thần kinh; mà khi virus gắn vào một tế bào thần kinh hoặc dây thần kinh, nó sẽ gây sưng mạn tính, từ đó có thể dẫn tới những trận bại liệt tạm thời; co thắt mặt, khó di chuyển hàm; co cứng toàn thân nghiêm trọng; cảm giác căng cơ dù chỉ hoạt động thể chất chút xíu; khó làm việc bằng tay vì cổ tay rã rời; đau khuỷu tay, cổ tay, vai, đùi hay cổ; hoặc co giật thần kinh. Để tổn thương thần kinh diễn ra trên diện rộng, cần phải hiện diện một chủng EBV đột biến thể. Rõ ràng, EBV không phải tác nhân kích hoạt Guillain-Barré. Nó là nguyên nhân gây bệnh.
Đa số bệnh nhân mắc Guillain-Barns mạn tính còn phải chung sống với các tác động của độc tố thần kinh do virus-mà độc tố thần kinh này chưa chắc đã do mỗi mình EBV sinh ra. Virus zona, HHV6 virus cytomegalo, herpes simplex 1 và herpes simplex 2 cũng có thể góp phần. Hàng chục đột biến của các loại virus này đều ưa thích tiêu thụ kim loại nặng độc hại, dung môi, thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm, hương liệu và sản phẩm hóa dầu; cũng như trứng, sữa, phô mai, bơ và gluten – rồi sản sinh rác thải dưới dạng độc tố thần kinh. Những độc tố thần kinh đó sẽ tìm đường tới mô thần kinh khắp cơ thể và não bộ, dẫn tới nhiều triệu chứng như ngứa ran, tê liệt, đau nhức, yếu chi, run rẩy, thậm chí những trận bại liệt nhẹ tạm thời. Tác hại của độc tố thần kinh do virus cũng có thể dẫn tới hàng chục các chẩn đoán, từ đa xơ cũng (MS), ALS, Lyme thần kinh, thậm chí cả bệnh thần kinh tiểu đường.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều tri Bệnh Lý & Rối Loạn Tự Miễn trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

43. Đau đầu

Có nhiều nguyên nhân gây đau đầu. Một trong số đó là do nhiễm khuẩn cấp thấp ổ xoang, dù trong ngắn hạn hay dài hạn, phát sinh bởi liên cầu khuẩn mà một người đã mắc phải trong đời. Khi hệ miễn dịch suy giảm, liên cầu khuẩn giành được sức mạnh, gây sưng ổ xoang và tạo áp lực lên dây thần kinh sinh ba, dây thần kinh mặt và dây thần kinh thị giác. Tình trạng sưng ổ xoang này xảy ra rất phổ biến khi người đó đang trong chu kỳ kinh nguyệt hoặc trải qua sự thay đổi hormon – bởi lúc đó, cơ thể dồn mọi nguồn lực cho hệ sinh dục, kết quả là hệ miễn dịch yếu đi.
Tình trạng đau đầu mạn tính cũng có thể phát sinh do mất nước mạn tính. Mọi người bị mất nước nhiều hơn họ tưởng, và phải sống chung với lá gan độc hại cùng dòng máu bẩn quánh đặc. Mất nước làm giảm hoạt động điện cũng như sự hỗ trợ dẫn truyền thần kinh, khiến não quá nóng – từ đó cho phép tình trạng đau đầu có thể diễn ra thình lình bất cứ lúc nào. Mọi người còn theo chế độ ăn giàu chất béo, tiêu thụ chất béo quá một lần mỗi ngày. Như bạn đã biết, sự hiện diện triền miên của chất béo trong máu dẫn đến tình trạng kháng insulin mạn tính ở cả người già lẫn người trẻ, làm gián đoạn khả năng hấp thụ glucose quý giá. Sự hiện diện không ngừng của chất béo trong máu còn ngăn nước, muối khoáng và oxy phục hồi tế bào não và mô liên kết nhanh chóng. Hậu quả là, tình trạng thiếu hụt kho vật tư trong não có thể gây nên những cơn đau đầu thường kỳ.
Hãy chú ý tới các tác nhân kích hoạt đau đầu như hương liệu, cafein, aspartame, chất bảo quản trong thực phẩm chế biến sẵn, chất cồn, khói thuốc và thuốc lá điện tử. Đồng thời để mắt tới những thực phẩm như gluten, trứng, chế phẩm bơ sữa – những thứ nuôi dưỡng các mầm bệnh trong cơ thể như EBV, virus zona, herpes simplex 1 và herpes simplex 2. Độc tố thần kinh của virus có thể theo máu đi tới não, gây nên những cơn đau đầu thường kỳ và đôi khi là kinh niên. Nếu tình trạng nhiễm virus cấp thấp diễn ra gần những dây thần kinh trọng yếu, cơn đau đầu có thể xảy đến. Dây thần kinh sinh ba, dây thần kinh mặt và dây thần kinh phế vị là những dây thần kinh sọ rất nhạy cảm chạy khắp cổ và mặt – thậm chí còn kết nối với thân não – vì thế hoạt động của virus gần chúng có thể gây kích ứng mạnh.
Nói chung, những dây thần kinh nhạy cảm vì kim loại nặng độc hại, cafein dư thừa, hương liệu, MSG, thuốc diệt côn trùng, nicotin, độc tố hóa chất, và hơn thế nữa – tách biệt hoặc cộng dồn vào tình trạng nhiễm virus – cũng có thể dẫn đến tình trạng đau đầu từ nhẹ tới vừa phải. Một số người không chịu được mùi thơm hương liệu vì hương liệu rất độc. Không ai nhận ra rằng hương liệu đó đang kích thích dây thần kinh của họ. Mọi người đang dần bão hòa quá độ xà phòng hóa học độc hại. Hương liệu từ nến thơm hiện là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây đau đầu.
Một số người đau đầu khi cố gắng đeo kính áp tròng, bởi dây thần kinh thị giác của họ đang nhạy cảm. Kính mắt của một số người không được điều chỉnh kịp thời theo tình huống hiện thời của họ, nên mắt họ phải căng ra và họ bị đau đầu. Một số khác nhìn màn hình suốt cả ngày rồi thấy đau đầu. Đây đều là tình trạng dây thần kinh nhạy cảm dạng nhẹ mà hàng trăm triệu người đang mắc phải.
Kim loại nặng độc hại trong não cũng có thể gây đau đầu, đôi khi kéo dài cả đời nếu kim loại không bị thải bỏ. Kim loai nặng độc hại như thủy ngân và nhôm rải rác khắp trong não, tương tác với nhau và oxy hóa, có thể gây nên tình trạng đau đầu triền miên suốt cuộc đời. (Xem thêm phần “Đau nửa đầu và chương 3.)
Cơn đau đầu cũng có thể đến từ một yếu tố cảm xúc – nhưng đây không phải lý do để nói rằng tất cả đều do người bênh tưởng tượng. Khi tồn tại một mâu thuẫn hoặc căng thẳng về mặt cảm xúc hay tâm thần – như đối phó với đồng nghiệp hay đối tác hà khắc, gặp phải sự mất mát, khó khăn, chật vật – não có thể nóng lên quá độ, dẫn đến sự sụp đổ cẩm xúc. Sau một thời gian dài đau khổ, chúng ta thường suy sụp tới một mức độ nào đó rồi cơn đau đầu có thể nổ ra khi não bộ cố gắng chữa lành và tái điều chỉnh sau trận bão cảm xúc hoặc cơn bão nhiệt dữ dội trên diện rộng. Nếu còn những yếu tố tiềm ẩn khác, như kim loại nặng độc hại hay tình trạng nhiễm virus cấp thấp, và các dây thần kinh sọ vốn đã hơi nhạy cảm, thì những khó khăn về cảm xúc có thể khơi dây cơn đau đầu nhức nhối, khó chịu, thậm chí đau nửa đầu.
Một nguyên nhân khác gây đau đầu có thể là sự tích dịch nhẹ do chứng phù nề. Tình trạng tích dịch này có thể chèn ép dây thần kinh sinh ba, dây thần kinh mắt và dây thần kinh sọ thị giác, gây khó chịu. Cơn đau đầu có thể xấu đi theo năm tháng, và cuối cùng chuyển thành đau nửa đầu.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đau Nửa Đầu trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

44. Mất nhận thức không gian một bên (mất nhận thức bên phải, mất nhận thức bên trái)

Trong những ca có chấn thương rõ rệt, tình trạng mất nhận thức không gian một bên xảy ra do tổn thương mô não sau tai nạn, đột quỵ, thậm chí do phơi nhiễm phóng xạ hoặc hóa chất. Đó cũng là dạng mất nhận thức không gian một bên tạm thời, điều này có lẽ bạn sẽ không nghe thấy trong các cuộc thảo luận về tình trạng này. Trong trường hợp này, không phải lúc nào cũng xảy ra vấn đề với việc xử lý thông tin từ bên trái hay bên phải. Các đợt bệnh có thể diễn ra theo chu kỳ, dù chỉ một lần trong đời hay cách nhau 6 tháng.
Một nguyên nhân gây mất nhận thức không gian một bên là ngộ độc thực phẩm. Độc tố và vi trùng trong thực phẩm – dù còn sống hay đã chết – đều có thể xâm nhập não, thấm đẫm một số vùng mô não, gây nên tình trạng ảo giác và hoang tưởng, từ đó có thể dẫn tới những đợt mất nhận thức không gian một bên tạm thời.
Một phiên bản tạm thời khác của tình trạng này xảy đến khi một người quá suy yếu do nhiễm trùng virus đã lan tới não – chẳng hạn, một chủng HHV-6 hay các chủng từ HHV-10 tới HHV-16 chưa được khám phá ra, thậm chí một chủng EBV hung hãn. Ngay lần đầu tiên xâm nhập não, virus có thể giải phóng một lượng chất độc khổng lồ; và nếu lượng chất độc này thấm đẫm mô não tại khu vực kiểm soát khả năng ứng phó trơn tru, nó có thể dẫn tới dạng mất nhận thức không gian một bên tạm thời nhẹ hơn dạng mất nhận thức không gian một bên do chấn thương não. Thông thường, bệnh nhân phải nhập viện vì não nhiễm virus sẽ trải qua nhiều quãng mất nhận thức không gian một bên ngắn mà không hề được chẩn đoán ra.
Đối với nhiều người mắc bệnh mạn tính, mất nhận thức không gian một bên có thể trở thành kinh niên, vượt qua mức tạm thời và định kỳ mà thay vào đó, nó dường như trở thành một tình trạng kéo dài bất tận. Khi mất nhận thức không gian một bên do virus kéo dài như vậy, thì nguyên nhân là do chấn thương tiềm ẩn, đột quỵ, tai nạn hoặc phơi nhiễm hóa chất kết hợp với một tình trạng nhiễm virus.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Mất Nhận Thức Không Gian Một Bên trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

45. Bệnh Huntington

Các nghiên cứu y khoa vẫn tin rằng bệnh Huntington là một tình trạng di truyền, do gen và lây lan trong gia đình. Mặc dù lý thuyết kể trên hoàn toàn không chính xác, nhưng lại có giá trị gián tiếp vì thực sự tồn tại một thứ lan truyền hết thế hệ này sang thế hệ khác: Kim loại nặng độc hại như thủy ngân. Các nghiên cứu y khoa còn tin rằng ở bệnh Huntington, tế bào não chết dần chết mòn tại các vùng não kiểm soát cảm xúc, vận động và khả năng nhận thức. Dẫu chỉ là lý thuyết, nhưng lại có điểm đáng giá. Thực sự là, các tế bào não đang chết dần chết mòn. Tại sao vậy? Cái gì khiến tế bào não chết đi? Tại sao năng lực nhận thức của người bệnh lại suy yếu? Tại sao các chuyển động không tự chủ lai diễn ra, cản trở chức năng vận động của họ? Nguyên nhân là gì? Tất cả vẫn còn là bí ẩn đối với các nghiên cứu y khoa. Một khiếm khuyết về gen không khiến tế bào não chết đi.
Nguyên nhân gây bệnh Huntington còn chưa được khám phá ra là một hỗn hợp gồm thủy ngân và nhôm (với lượng ít hơn) tương tác lẫn nhau và oxy hóa quanh hạch não. Như bạn đã biết, thủy ngân sẽ tìm kiếm thêm thủy ngân. Vì thế nếu một người trải qua thời thơ ấu phơi nhiễm kim loại nặng độc hại, chỗ thủy ngân mới sẽ tìm đến các cặn thủy ngân cũ, rồi hợp lại với nhau.
Khi kim loại nặng độc hại oxy hóa quanh hạch não, các tế bào chết đi nhanh chóng. Đồng thời, do thấm đẫm kim loại nặng độc hại, hạch não hình thành một điểm nóng đối với virus và độc tố thần kinh của virus. Nếu người đó nhiễm một chủng virus herpes như EBV trong giai đoạn đó, thì virus mới có thể sẽ tìm tới điểm nóng kia, ngấu nghiến chỗ kim loại rồi giải phóng rác thải độc hại, gia tăng tốc độ oxy hóa và nhanh chóng giết chết nhiều tế bào não hơn. Đó là lúc các triệu chứng bệnh Huntington tiến triển mau lẹ. Trong hầu hết các ca bệnh, chỉ tồn tại nguyên nhân duy nhất là kim loại, nên tiến triển bệnh châm rãi hơn.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Lý Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

46. Bệnh viêm cơ

Bệnh viêm cơ phát sinh do một tình trạng nhiễm virus ngấu nghiến kim loai nặng độc hại, nhưng độc tố thần kinh đặc thù của virus không tác động tới dây thần kinh theo cách thông thường.
Trong trường hợp này, do một hỗn hợp kim loại nặng độc hại và nhiều loại virus hiện diện, độc tố thần kinh mà virus tiết ra, trước hết, gây viêm cơ chứ không phải dây thần kinh. Thông thường, độc tố thần kinh gây kích ứng dây thần kinh. Nhưng ở đây, dù một số tình trạng trực tiếp gây kích ứng dây thần kinh có thể diễn ra, nhưng đa phần dây thần kinh bị viêm thứ phát – dĩ nhiên là vậy, vì dây thần kinh nằm trong cơ. Khi cơ bị viêm, nó sẽ ảnh hưởng tới dây thần kinh bên trong cơ.
Các chủng khác nhau của EBV, herpes simplex và virus cytomegalo có xu hướng ưa thích các kim loai khác nhau. Khi ai đó mắc bệnh viêm cơ, nguyên nhân thường là do có ít nhất hai kim loại đang nuôi dưỡng một hoặc nhiều virus. Còn có nhiều hỗn hợp và công thức kim loại khác biệt. Một số người cùng lúc trải qua bệnh viêm cơ và bệnh thần kinh ngoại biên, bởi các dạng độc tố thần kinh khác nhau do virus tiết ra dẫn tới những tác động và triệu chứng khác nhau. Khi cả da và cơ đều chịu ảnh hưởng trong bệnh viêm cơ, nguyên do cũng vì nhiều loại rác thải khác nhau đang được virus sản sinh ngay lúc đó. Chẳng hạn, virus này có thể ưa đồng, nickel, chì và nhôm, nên gây viêm cơ bằng độc tố thần kinh của riêng nó; trong khi virus khác lại thích đồng và nickel, nên sản sinh nhiều dermatoxin, dẫn tới tình trạng được gọi là bệnh viêm cơ-da.
Mặc dù bản thân não bộ có thể không bị viêm trong bệnh viêm cơ, nhưng thường thì, cơ quanh sọ, mặt và cổ sẽ bị tấy lên, gây áp lực cho não. Chưa kể tới, não còn là một tập hợp các dây thần kinh, mà dây thần kinh thường truyền tín hiệu đau đớn, nên nếu cơ ở vùng nào trong cơ thể bị sưng viêm –
tức là dây thần kinh trong cơ đó bị sưng viêm – thì não có thể cũng bị ảnh hưởng. Trong trường hợp này, tình trạng mệt mỏi và tự kỷ có thể diễn ra đồng thời với bệnh viêm cơ.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tình Trạng Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

47. Chứng mất ngủ

Khó ngủ đôi khi có thể chỉ đơn thuần là tình trạng đầu óc quay cuồng vì cố gắng tìm ra giải pháp cho một vấn đề, nỗi căng thẳng hay lo lắng trong đời. Chúng ta không cần âu lo vì một, hai đêm trằn trọc. Nhưng nếu khó ngủ trở thành mạn tính, thì khi đó có nhiều vấn đề đang diễn ra. Các hóa chất dẫn truyền thần kinh là một phần cực kỳ quan trọng trong khả năng chìm vào giấc ngủ. Dòng điện chạy qua mọi tế bào thần kinh khi ta ngủ. Nếu các chất dẫn truyền thần kinh suy yếu, xung điện sẽ gặp khó khăn khi di chuyển khắp não bộ. Hóa chất dẫn truyền thần kinh thấp kém hoặc suy yếu cũng có thể khiến não khó tìm thấy sự cân bằng cần thiết để bạn dễ dàng thiếp đi và ngủ yên ổn.
Hệ thần kinh của một số người còn nhạy cảm vì tình trạng nhiễm virus mạn tính, cấp thấp trong gan – như EBV hay virus zona mà thường không chẩn đoán ra. Độc tố thần kinh thoát khỏi gan, trôi nổi trong máu và có thể tới được não; tại đó, chúng bão hòa, vấy bẩn và làm suy giảm hóa chất dẫn truyền thần kinh. Điều này đặc biệt đúng nếu chế độ ăn của người đó không giúp ích được cho họ trong việc bảo vệ bản thân trước virus và xây đắp các hoạt động dần truyền thần kinh.
Thông thường, những người có kim loại nặng độc hại tích tụ trong não sẽ gặp khó khăn khi ngủ vì kim loại nặng oxy hóa và ảnh hưởng tới các hóa chất dẫn truyền thần kinh. Ở những ca mất ngủ mạn tính nghiêm trọng, thường là do hiện diện cả kim loại nặng độc hại trong não lẫn nhiễm virus cấp thấp trong cơ thể. Kim loại nặng độc hại và virus gây suy yếu hệ thần kinh trung ương đến mức chúng liên tục quấy nhiễu giấc ngủ của người bệnh, hoặc khiến họ rất khó thiếp đi.
Đau nhức toàn thân do nhiễm virus cấp thấp hoặc do chấn thương cũng có thể gây mất ngủ. Các loại dược phẩm vừa khiến gan trì trệ và chậm chạp, vừa tiếp nhiên liệu cho tình trạng nhiễm virus cấp thấp (như EBV) cũng có thể dẫn tới mất ngủ.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều tri Chứng Mất Ngủ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

48. Tăng áp lực nội sọ

Nữ giới, vốn thường chịu ảnh hưởng của tình trạng tăng áp lực nội so nhiều hơn nam giới, cũng là nhóm có xu hướng dễ mắc phải tình trạng nhiễm virus hơn. Đây không phải sự trùng hợp. Tăng áp lực nội sọ là một tình trạng do virus gây ra.
Thông thường, tình trạng tăng áp lực nội sọ có liên quan tới việc sử dụng dược phẩm. Quả thực, đúng là một số dược phẩm có thể gia tăng tình trạng tích dịch trong cơ thể hoặc giữa não và sọ. Dù là vậy, nhưng tại sao không phải ai dùng thuốc cũng bị tiếng rung trong tai hay các triệu chứng tăng áp lực nội sọ khác? Sự khác biệt nằm ở chỗ người dùng thuốc có mắc phải tình trạng nhiễm virus tiềm ẩn hay không. Dược phẩm là thức ăn lý tưởng đối với virus. Từ kháng sinh, benzodiazepine, steroid kháng viêm tới thuốc chống trầm cảm, danh sách dược phẩm kê đơn tiềm ẩn nguy cơ tiếp sức cho tình trạng nhiễm virus mạn tính cấp thấp còn dài mãi.
Những dược phẩm này được sử dụng để giải quyết các vấn đề sức khỏe đang diễn ra. Rất nhiều người, dù nhận được chẩn đoán mắc tăng áp nội sọ tự phát hoặc thứ phát hay chưa, đều đang phải đối mặt với các chẩn đoán như mắc đa xơ cứng, viêm khớp dạng thấp, viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Lyme, lupus ban đỏ hệ thống, đau xơ cơ, ME/CFS, hay phải vật lộn với nhiều triệu chứng như đục dịch kính, tim đập nhanh, hoa mắt chóng mặt. Nếu ngoài tình trạng tăng áp lực nội sọ, họ không nhận được chẩn đoán mắc thêm tình trạng nào khác, thì rất có khả năng trong tương lai người đó sẽ được chẩn đoán mắc một bệnh tự miễn. Bệnh tự miễn đó, thực ra, không phải do cơ thể tấn công chính nó; mà là do nhiễm virus. Hoạt động của virus phía sau những căn bệnh ấy dẫn tới việc tích nhiều dịch bạch huyết – hay phù nề – trong cơ thể. Hoạt động của virus còn gây sưng dây thần kinh sọ, làm tăng thêm sức ép giữa sọ và não.
Số lượng virus, chủng loại virus và các đột biến hiện diện, cùng với kim loại nặng độc hại nào có mặt và phơi nhiễm hóa chất nào khác nữa – tất cả đều tác động tới việc tích tụ bao nhiêu dịch bạch huyết, từ đó gây nên những cơn đau đầu ở tình trạng tăng áp lực nội sọ thể nhẹ. Tình trạng phù nề do nhiễm virus cấp thấp cũng có thể khiến một người tích thêm 7-9kg nước, đó chính là độc tố tràn ra từ một lá gan trì trệ, chậm chạp và gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình một cách thích đáng. Tích dịch là một cơ chế bảo vệ nhằm cố gắng kìm giữ và pha loãng độc tố của virus. Bạn không nhất thiết phải thừa cân mới mắc phải phiên bản tăng áp lực nội sọ phù nề do virus này. Bạn cũng có thể bị tích dịch giữa não và sọ nếu tình trạng nhiễm virus được tiếp nhiên liệu từ kim loại nặng độc hại và các phơi nhiễm độc hại khác gần đầu.
Tích dịch tủy sống và tích dịch bạch huyết là hai điều hoàn toàn khác biệt. Khi bạn bị sưng tấy do phù bạch huyết, thì sẽ thường sưng lên tới não, gây nên một sức ép thường bị nhầm là áp lực dịch tủy sống.
Tình trạng nhiễm virus cấp thấp trong não hoặc cột sống cũng có thể tạo thêm dịch tủy sống. Nhiễm virus ở vùng nào khác trên cơ thể cũng có thể tạo thêm dịch tủy sống. Mặc dù điều này gây nên nhiều triệu chứng đáng ngại, nhưng đó là phản ứng bảo vệ bạn của cơ thể, giống như lúc đầu gối bị va đập rồi sưng phù như trái bóng bay nên bạn không thể đi lại được. Khi ấy, không đi là được chẳng vui vẻ gì, nhưng đó là cách cơ thể phản ứng trước chấn thương, và nó đang bảo vệ bạn bằng cách không để bạn tổn thương thêm nữa.
Một số tình trạng nhiễm virus trong cơ thể thúc đẩy sản sinh thêm dịch tủy sống để bảo vệ não bộ. “Thêm” không nhiều chút nào – đôi khi chỉ cực ít ỏi ở một số ca và có thể không gây triệu chứng nặng nề. Hầu hết bệnh nhân mắc rối loạn mạn tính đều đang sống với dịch não tủy tăng thêm như một cơ chế tự nhiên để bảo vệ não; bởi họ đang trải qua tình trạng sưng viêm do độc tố thần kinh của virus tác động tới thân não, nên dịch tủy dư thừa giúp pha loãng những độc tố đó. Khi cột sống, thân não và các dây thần kinh sưng lên, áp lực dịch não tủy gia tăng. Một nguyên nhân là khi đó có ít không gian cất chứa dịch não tủy hơn. Điều này thường khiến bệnh nhân mắc các tình trạng như đa xơ cứng viêm khớp dạng thấp, viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Lyme, lupus ban đỏ hệ thống, đau xơ cơ hay ME/CFS nhạy cảm hơn trước cái nóng và độ ẩm – bởi cái nóng và độ ẩm khiến cơ thể sưng lên, càng gia tăng áp lực.
Bệnh nhân mắc tăng áp lực nội so thường đi lấy dịch tủy sống. Vấn đề là, thủ thuật này không hữu hiệu trong việc nhân diện mầm bênh. Việc chọc tủy sống gần như bất khả thi trong việc dò tìm mầm bênh đang lẫn lút, tế bào virus im lìm, nếu xem xét tới việc nhiều đột biến herpes chưa được các nghiên cứu y khoa ghi nhân. Ban không thể tìm thấy một thứ mà bạn không biết tới sự tồn tại của nó. Có rất nhiều chủng virus thuộc họ herpes chưa được khám phá ra, và 99% số đó thực sự không thể được phát hiện thông qua lấy dịch tủy sống. Đây là lý do tại sao viêm màng não do virus vẫn còn là một bí ẩn đối với các nghiên cứu y khoa: Bởi việc chọc dò tủy sống không thể phát giác được tình trạng nhiễm virus. Thủ thuật đó không phát hiện được virus nào đang thực sự hiện diện; mặc dù các bác sĩ đoán định rằng có lẽ một tình trạng nhiễm virus gây nên viêm màng não do virus, nhưng họ sẽ không biết đó là loại virus nào.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tình Trạng Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

49. Ngứa ran & nóng rát

Mỗi người đều có một tập hợp chất độc, độc tố và virus trong cơ thể độc nhất vô nhị. Chỉ riêng số lượng chủng loại và đột biến trong họ EBV, chưa kể tới chủng loại và đột biến của các virus khác, cũng đã cho thấy tác hại mà chúng gây ra ở mỗi người là rất khác nhau. Một số độc tố lại ác hại hơn đối với dây thần kinh ngoại biên, nên khi virus ngấu nghiến chúng rồi thải ra độc tố thần kinh, những độc tố thần kinh đó sẽ gây viêm nặng hơn cho các dây thần kinh ngoại biên gần da – từ đó có thể dẫn tới cảm giác ngứa ran, nóng rát. Người bệnh thường cảm thấy một cơn ngứa gãi không sao hết được – bất kể họ cố gắng thế nào, họ cũng không thể dập tắt nó từ bên ngoài. Nhiều người trải nghiệm cảm giác ngứa ran không cố định, đôi khi từ đùi dịch xuống bàn chân, lên cánh tay rồi tới bàn tay, mà không có biểu hiện eczema, vảy nến hay viêm da.
Nếu ai đó mắc virus zona, dù được chẩn đoán hay không, độc tố thần kinh của nó thường gây ngứa ran hoặc nóng rát ở bàn chân mà bác sĩ có thể chẩn đoán nhầm thành nấm chân, dính phải ve/mạt, dùng loại giày gây khó chịu, hoặc một phản ứng dị ứng. Nhưng thực ra, đó là dây thần kinh ngoại biên phản ứng trước một chất độc. Độc tố thần kinh cũng có thể gây viêm các dây thần kinh nằm sâu hơn, dẫn tới nhiều cơn đau nhức hoặc cơn đau lang thang (không có vị trí cố định) và bị chẩn đoán nhầm thành đau xơ cơ.
Virus còn có thể giải phóng dermatoxin, độc tố này trồi lên bề mặt da rồi gây nên eczema và vảy nến. Các cộng đồng y tế tin rằng đó là một phản ứng tự miễn – tức là, hệ miễn dịch của cơ thể tấn công da. Không phải như vậy. Xin nhắc lại, tình trạng ngứa ran và nóng rát này phát sinh do dermatoxin của virus gây viêm da. Loại dermatoxin yếu không gây phát ban cũng có thể làm viêm dây thần kinh ngoại biên, và chịu trách nhiệm cho cảm giác ngứa ran, buốt nhói và nóng rát bí ẩn.
Tất cả các độc tố đó đều có thể trôi tới não, khiến não gửi tín hiệu nóng rát đi khắp cơ thể. Một số người có thể mắc cả hai tình trạng: vừa có độc tố thần kinh của virus gây viêm dây thần kinh, chẳng hạn như, ở cánh tay; vừa mắc tình trạng viêm dây thần kinh trong não do virus và khiến nào gửi tín hiệu nóng rát tới đùi. Các nghiên cứu y khoa còn phải mất nhiều thập kỷ nữa mới hiểu thấu điều này.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tình Trạng Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

50. Đau cơ & khớp

Một người ngã đập đầu gối hay trẹo chân nên phải chịu cơn đau cấp tính – điều này thường quá hiển nhiên. Một số cơn đau đến do chấn thương, tai nạn hoặc sự cố, và chẳng có gì bí ẩn cả. Nhưng nếu ai đó phải chịu cơn đau cơ hay đau khớp mạn tính mà không có nguyên nhân rõ ràng thì lại là một điều hoàn toàn khác. Ngay cả khi bác sĩ đã chẩn đoán họ mắc viêm khớp dạng thấp, bệnh Lyme hay đau xơ cơ – trao cho nỗi khốn khổ ấy một cái tên – thì nó vẫn là cơn đau cơ, đau khớp bí ẩn.
Nguyên nhân chân chính của cơn đau mạn tính này là nhiễm virus, đôi khi cấp tính, mặc dù đa phần là tình trạng nhiễm một hay nhiều virus lâu dài – những virus đó khu trú trong gan, tiêu thụ thức ăn ưa thích của chúng. Bệnh nhân thường nhận thấy đỡ đau cơ, đau khớp hơn khi cắt bỏ gluten (cùng nhiều thực phẩm chống phá não bộ khác) khỏi chế độ ăn, mặc dù lý do tại sao cách này hiệu quả vẫn còn chưa được các nghiên cứu y khoa biết tới. Bạn sẽ nghe bảo rằng bởi đó đều là những thực phẩm gây viêm. Sự thật thì, chúng là những thực phẩm cung cấp nhiên liêu cho virus.
Bất kể bạn nhân được chẩn đoán gì, thì đau cơ khớp triền miên đều do virus, phát sinh bởi ít nhất một chủng thuộc nhiều loại và đột biến của EBV, virus zona, HHV-6, herpes simplex 1 và herpes simplex 2, hoặc virus cytomegalo. Xin nhắc lại, độc tố thần kinh của virus mới có lỗi, vì chúng làm viêm dây thần kinh và gây đau nhức. Thường thì, cảm giác mà bạn tưởng như đau cơ thực ra lại là đau dây thần kinh trong cơ. Và thường thì, cảm giác mà bạn tưởng như đau khớp thực ra lại là đau dây thần kinh quanh khớp. Độc tố thần kinh trôi nổi trong máu, xâm nhập cơ, gây viêm dây thần kinh trong cơ; đồng thời khu trú trên dây thần kinh quanh khớp. Một số chủng EBV có thể tự bám mình vào dây thần kinh, gây viêm nhiễm do tiếp xúc trực tiếp. Cũng có trường hợp, bản thân khớp bị sưng viêm do các nốt mà virus tạo ra; cơn đau vẫn sẽ bùng lên từ các dây thần kinh quanh khớp đó.
Khi độc tố thần kinh của virus xâm nhập não, chúng có thể gây đau dây thần kinh ở nhiều vùng khác trên cơ thể. Nếu một tình trạng nhiễm virus mạn tính kéo dài ở đâu đó trong cơ thể giải phóng đủ lượng độc tố thần kinh tới mức thấm đẫm não bộ, thì số độc tố thần kinh đó có thể xoáy tròn rồi tụ lại, tạo nên những cụm độc tố thần kinh trong các hóc não – nơi có các thụ thể đau tiếp nhận tín hiệu đau từ các vùng khác trên cơ thể khi người đó bị thương. Có điều, ở trường hợp này, cơ thể người đó không bị thương, nhưng các thụ thể đau lại bị kích hoạt bởi độc tố thần kinh trong não, từ đó truyền tín hiệu đau đi khắp cơ thể thông qua các dây thần kinh, tạo nên cơn đau toàn thân hão huyền. Tôi gọi đây là cơn đau não. “Hão huyền” không có nghĩa rằng cơn đau không có thực. Cơn đau đó đến từ một tín hiệu xuất phát từ não bộ. Nó là cơn đau rất thật với một nguyên nhân rất thật, và rất phổ biến ở nhiều tình trạng thần kinh như đau xơ cơ. Một số chủng virus, như các chủng đột biến của EBV, có thể sản sinh loại độc tố thần kinh với độc tính mạnh hơn nếu lọt được vào não, và gây nên nhiều cơn đau não khắp cơ thể hơn.
Một số người có thể gặp phải tất cả các vấn đề cùng một lúc. Não bị ảnh hưởng bởi độc tố thần kinh sẽ gửi tín hiệu tạo nên cơn đau dây thần kinh; độc tố thần kinh của virus trôi nổi trong máu gây viêm dây thần kinh; một chủng virus đột biến (như của EBV) khiến dây thần kinh viêm nhiễm do tiếp xúc trực tiếp; và một virus xâm nhập khớp, làm khớp sưng viêm, tạo áp lực lên các dây thần kinh quanh khớp đó. Hoặc người bệnh có thể chỉ mắc phải một, hai hoặc ba vấn đề trên.
Khi người ta đau ốm và suy yếu vì các tình trạng như bệnh Lyme, viêm khớp dạng thấp, đau xơ cơ hay ME/CFS, các sinh hoạt cơ bản và việc nhà đơn giản có thể trở nên rất khó khăn; họ không thể tập thể dục hay vận động theo mong muốn thông thường để xây đắp hoặc duy trì sức mạnh cơ bắp. Đôi lúc, khi di chuyển hoặc tập luyện, họ càng đau cơ, đau khớp nhiều hơn. Tình huống trở nên tiến thoái lưỡng nan, khiến họ càng khó xây đắp hoặc duy trì cơ bắp bởi họ đau đớn và khó chịu. Càng nhiều độc tố thần kinh trôi nổi trong máu, càng khó tập luyện thể dục, vì khi tim bơm máu tuần hoàn khắp cơ thể, nguy cơ xảy đến nhiều cơn mệt mỏi, đau cơ và đau khớp càng cao.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đau Khớp và/hoặc Đau Xơ Cơ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

51. Rối loạn & khuyết tật học tập

Các rối loạn và khuyết tật học tập có thể khởi phát từ rất trẻ, với kim loại năng độc hại (như nhôm và thủy ngân) khu trú trong kênh giữa não. Các tình trạng này cũng có thể phát sinh do kim loại năng độc hai nằm rải rác khắp các vùng khác nhau của não. Một khu vực mà kim loại nặng độc hại thường tích tụ và cản trở hoạt động là trung khu xử lý của não, nơi tiếp nhận thông tin. Kim loại nặng độc hại cũng thường trú ngụ ở những vùng não nơi thông tin qua xử lý được gửi đi; điều này có thể ảnh hưởng tới khả năng trả lời câu hỏi trong bài thi hoặc bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc của ai đó.
Một bộ não chưa phát triển trọn vẹn sẽ cố gắng mau chóng thích nghi với sự hiện diện của kim loại nặng độc hại bằng cách tái điều hướng các xung điện bị kim loại cản trở. Não bộ của trẻ em chưa có nhiều mô não liên kết và các tế bào thần kinh vì nó vẫn đang trong quá trình phát triển, nên các xung điện sẽ đi vòng qua kim loại nặng độc hại theo những cách rất độc đáo. Đây phần nào là khả năng thích nghi và tồn tại khi kim loại nặng độc hại thấm đẫm mô não còn non trẻ.
Nếu não bộ không gặp phải chấn thương thể chất, thì mỗi cá nhân mắc rối loạn hay khuyết tật học tập – dù trẻ em hay người lớn – đều đã mắc phải dạng phơi nhiễm kim loại nặng độc hại nào đó. Mỗi một ca bệnh là độc nhất vô nhị. Không có rối loạn hay khuyết tật học tập nào là giống nhau, bởi không có sự phơi nhiễm kim loại nặng độc hại nào giống nhau. Khi não bộ của trẻ em tăng trưởng và phát triển, nhiều mô liên kết được tạo ra hơn, cùng với nhiều tế bào thần kinh và tế bào não hơn, điều này cho phép trẻ vượt qua được một số, nếu không phải tất cả, các thách thức học tập. Thứ khiến một rối loạn hoặc khuyết tật học tập kéo dài là sự phơi nhiễm kim loại nặng độc hại liên miên thông qua các biện pháp điều trị y tế hoặc qua những con đường phơi nhiễm phổ biến khác.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối Loạn & Khuyết Tật Học Tập trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

52. Cảm cúm kéo dài & covid kéo dài

Hệ miễn dịch suy yếu do cảm cúm hay COVID sẽ tái kích hoạt EBV và/hoặc chủng virus herpes khác vốn đã có mặt trong cơ thể.
Chưa có ai từng để ý tới sự thật là virus cúm đã làm điều đó suốt những năm qua. Cảm cúm kéo dài đã hiện diện suốt nhiều thập kỷ, tái kích hoạt EBV trong cơ thể mọi người, dẫn tới các triệu chứng hậu cúm liên quan tới EBV như viêm não, mệt mỏi mạn tính và các triệu chứng thần kinh. Nguyên nhân của các triệu chứng triền miên đó không phải do cảm cúm. Đúng hơn, cảm cúm hoạt động như một tác nhân kích hoạt, gây suy giảm hệ miễn dịch để một virus thuộc họ herpes (như EBV) tận dụng cơ hội, tăng trưởng về số lượng và tạo gánh nặng mạn tính cho cơ thể, khiến người đó đau ốm triền miên. COVID kéo dài cũng tương tự như vậy.
Tìm hiểu chi tiết hơn về tình trạng EBV tái kích hoạt tại chương 4 cuốn sách này và trong cuốn Cơ thể tự chữa lành 1 – Lý giải những căn bệnh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Lý & Rối Loạn Tự Miễn và/hoặc Tăng Bạch Cầu Đơn Nhân Nhiễm Trùng trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

53. Lupus ban đỏ hệ thống

Nguyên nhân gây lupus là do nhiễm virus. Khi một người bộc lộ những triệu chứng mà các cộng đồng y tế gắn nhãn là lupus ban đỏ hệ thống, thì nguyên nhân sâu xa của nó là EBV. Lupus có thể gây nên nhiều dạng phát ban khác nhau, trong đó có dạng phát ban hình bướm kinh điển (butterfly rash). Ban lupus phát sinh bởi tập hợp các độc tố thần kinh và dermatoxin mà EBV sản sinh ra khi tiêu thụ kim loại nặng độc hại, chủ yếu là thủy ngân – bởi những người đang chật vật vì lupus cũng đang phải đối phó với hàm lượng thủy ngân cao trong cơ thể. Sự hiện diện của thủy ngân và tình trạng nhiễm EBV kinh niên, dai dẳng khiến cho hệ miễn dịch suy yếu.
Ở bệnh lupus, dermatoxin của EBV tuần hoàn trong máu, trồi lên trên da và tạo nên nhiều loại phát ban, kèm theo tình trạng đau cơ trong nhiều ca bệnh. Độc tố thần kinh của EBV trôi nổi trong máu, gây viêm hệ thần kinh trung ương, hệ này sau đó sẽ truyền tín hiệu tới hệ thần kinh ngoại biên. Rác thải thần kinh và phụ phẩm mà EBV thải ra gây nổi mề đay hoặc những vết phát ban bí ẩn không xác định được cứ hiện lên rồi lặn mất ở nhiều vùng khác nhau trên cơ thể. Rác thải và phụ phẩm của virus có thể tạo ra phản ứng dị ứng nội cơ thể, bởi chúng khiến hệ miễn dịch quá tải hơn nữa, trong khi hệ miễn dịch vốn đã quá tải vì virus Epstein-Barr rồi.
EBV gây nên các triệu chứng thần kinh ở bệnh lupus, trải rộng từ đau đây và đau nửa đầu (do viêm dây thần kinh sinh ba, dây thần kinh mặt, dây thần kinh thị giác và đôi khi là dây thần kinh hoành); đến chóng mặt, lo âu, mệt mỏi, các vấn đề về thăng bằng (do viêm đầy thần kinh phế vị); rồi đau bàng quang và đi tiểu thường xuyên (do viêm dây thần kinh hông to và dây thần kinh thẹn trong); tới viêm gân bả vai, cổ tay, khuỷu tay, và đau bàn tay, đau ngón tay (viêm dây thần kinh trụ); và còn nhiều hơn nữa, vì các dây thần kinh khác nhau chạy khắp cơ thể cũng có thể trở nên viêm nhiễm.
Mệt mỏi thần kinh cũng có thể phát sinh do viêm hệ thần kinh trung ương – vấn đề này thường chiếm phần lớn trong bệnh lupus. Bệnh nhân lupus còn hay mắc phải một loạt các triệu chứng được ghi nhận khác, như vấn đề tuyến giáp và bệnh Lyme, tất cả đều bắt nguồn từ chính tình trạng nhiễm EBV. Lupus còn là ví dụ kinh điển cho thấy một bệnh nhân gán cho một tập hợp các triệu chứng, mà tập hợp triệu chứng này có thể được chẩn đoán thành những tình trạng khác. Có những khoảng mờ, sự mâu thuẫn và bất nhất khi đề cập tới một chẩn đoán lupus, và điều này khiến nhiều người bối rối. Trong khi đó, tất cả các nhân bênh này chỉ là những cách miêu tả khác nhau về cùng một vấn đề virus căn bản.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Lý & Rối Loạn Tự Miễn trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

54. Bệnh Lyme

Bệnh Lyme đã gây khốn khổ ghê gớm cho rất nhiều người trong nhiều thập kỷ vừa qua. Hầu hết các cộng đồng y tế ngày nay vẫn tin rằng Lyme phát sinh do một tình trạng nhiễm vi khuẩn sau vết cắn của bọ ve. Sự thật là, vết cắn của bọ ve chỉ là tác nhân kích hoạt một tình trạng ẩn sâu vốn đã hiện diện trong cơ thể. Đó là tình trạng nhiễm virus. Trong đa số các trường hợp, bệnh nhân Lyme chưa từng bị bọ ve cắn; thay vào đó, họ gặp phải một tác nhân kích hoạt khác. Dưới đây là những tác nhân kích hoạt các triệu chứng Lyme phổ biến. Lưu ý rằng, vết cắn của bọ ve nằm ở tận cuối danh sách này.

  1. COVID
  2. Mốc
  3. Miếng trám răng gốc thủy ngân (đặc biệt là quá trình lấy miếng trám ra)
  4. Lấy máu/rút máu quá nhiều
  5. Thủy ngân ở các dạng khác
  6. Thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và thuốc diệt nấm
  7. Thuốc diệt côn trùng trong nhà
  8. Cảm cúm
  9. Gia đình có người mất đi
  10. Trái tim tan vỡ
  11. Chăm sóc người thân yêu đau ốm
  12. Vết nhện cắn
  13. Vết ong đốt
  14. Dược phẩm kê đơn “thân thiện với virus”
  15. Dùng thuốc kê đơn quá mức
  16. Lạm dụng thuốc giải trí kích thích thần kinh
  17. Căng thẳng về tài chính
  18. Chấn thương thể chất
  19. Bơi lội mùa hè
  20. Dòng chảy xả thải
  21. Dịch vụ vệ sinh thảm chuyên nghiệp
  22. Sơn mới quét
  23. Mất ngủ
  24. Vết cắn của bọ ve

Đối với một số người, chỉ có EBV gây ra các triệu chứng thần kinh ở bệnh Lyme. Một số khác có thể mắc nhiều chủng EBV, cùng với virus zona, herpes simplex 1 và herpes simplex 2, virus cytomegalo, và/hoặc HHV-6 hay HHV-7, khiến cơ thể phải chịu gánh nặng cực độ. Thứ được gọi là vi khuẩn Lyme không thể gây nên các triệu chứng thần kinh. Vi khuẩn Lyme không hề sản sinh ra độc tố thần kinh, mà chỉ độc tố thần kinh mới tạo nên hàng loạt các triệu chứng thần kinh ở bệnh Lyme. Các virus thuộc họ herpes (như EBV) chính là thứ tiết ra một số những độc tố thần kinh hung hãn nhất – và đó mới là thứ dẫn tới mệt mỏi, sương mù não, ngứa ran, tê bì, đau nhức, sốt, tiếng rung trong tai, hoa mắt, đục dịch kính, mất ngủ, và hơn thế nữa.
Còn có sự nhầm lẫn về các phản ứng Herxheimer’ khi đề cập tới biện pháp điều trị Lyme bằng kháng sinh. Các cộng đồng y tế tin rằng những triệu chứng mà một bệnh nhân Lyme gặp phải khi dùng kháng sinh chính là phản ứng Herxheimer vì thuốc đang tiêu diệt vi khuẩn Lyme. Nguyên nhân thực sự khiến người bệnh khó chịu không phải do vì khuẩn chết đi. Đúng hơn, sự khó chịu đó là phản ứng đối với thuốc kháng sinh và các hỗn hợp chế phẩm bổ sung ác liệt đang mài mòn các dây thần kinh sọ nhạy cảm và viêm nhiễm.
Xin nhắc lại, các triệu chứng Lyme không liên quan tới vi khuẩn. Các triệu chứng đó là hậu quả của độc tố thần kinh mà virus thuộc họ herpes (như EBV) sản sinh ra. Những độc tố thần kinh đó có thể gây viêm mạn tính đối với hệ thần kinh trung ương. Người bệnh phải trải qua những triệu chứng nào còn tùy thuộc vào mức độ suy yếu của hệ miễn dịch; mức độ độc hại của lá gan; tình trạng phơi nhiễm kim loại nặng độc hai và hóa chất, cũng như tải lượng của chúng; nỗi căng thẳng và tác nhân kích hoat virus khác xảy đến trong đời họ; chế độ ăn và môi trường sống của họ. Tất cả đều góp phần vào ca bênh Lyme riêng biệt của mỗi người. Đó là một nỗi chật vật sức khỏe rất thật với những giải pháp rất thật. Hãy tham khảo thêm thông tin đầy đủ, chi tiết và thiết yếu về bệnh Lyme tại cuốn Cơ thể tự chữa lành 1-Lý giải những căn bệnh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Lyme trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

55. Viêm cơ não tủy / hội chứng mệt mỏi mạn tính (ME/CFS)

Còn gọi là Mệt Mỏi Thần Kinh, Hội Chứng Mệt Mỏi Mạn Tính (CFS), Hội Chứng Rối Loạn Miễn Dịch Mệt Mỏi Mạn Tính (CFIDS), Bất Dung Nạp Gắng Sức Toàn Thân (SEID), Mệt Mỏi Cực Độ, Mệt Mỏi Do Nhiễm Virus.
Đôi khi, tình trạng mệt mỏi rất dễ giải thích. Khi ai đó tập thể dục quá độ không có đủ thời gian nghỉ ngơi hoặc không nạp đủ lượng calo để cân bằng; khi ai đó làm việc trí não hay thể chất quá độ; khi ai đó nhịn ăn chỉ uống nước, khi ai đó mắc phải tình trạng suy yếu cấp tính như cảm cúm – đây chỉ là một vài ví dụ về tình trạng mệt mỏi tạm thời mà mọi người đều hiểu được.
Trái lại, thứ mệt mỏi cực độ không phát sinh do thiếu ngủ lại ngập tràn bí ẩn. Mặc dù có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn ngủi, nhưng mệt mỏi cực độ thường kéo dài lê thê, đôi khi suốt nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Nguyên nhân ẩn giấu chưa được khám phá của vấn đề này là tình trạng nhiễm virus mạn tính, dai dẳng, khởi phát từ gan. Đôi khi, mệt mỏi xảy đến do nhiều loại virus cùng một lúc – ít nhất từ 1-3 chủng EBV và/hoặc virus zona, herpes simplex 1 và herpes simplex 2, hoặc virus cytomegalo. Trong đa phần ca bệnh, mệt mỏi bắt nguồn từ virus Epstein-Barr. Nhiễm virus khác cũng có thể góp phần vào tình trạng mệt mỏi do EBV.
Thay vì coi tình trạng này là mệt mỏi mạn tính, tôi thường gọi là mệt mỏi thần kinh hoặc mệt mỏi do nhiễm virus bởi nó phát sinh do hệ thần kinh trung ương bị viêm nhiễm kinh niên. Để một virus duy trì hoạt động, phải luôn có thức ăn cho virus để nuôi dưỡng nó. Điều này dẫn tới việc virus sản sinh độc tố thần kinh, tạo nên tình trạng hút năng lượng trên dây thần kinh, từ đó khiến dây thần kinh bị suy yếu, hình thành mệt mỏi thần kinh.
Đây chính là lúc hệ thần kinh trung ương thấm đẫm độc tố thần kinh, rồi các dây thần kinh trở nên dị ứng và viêm nhiễm nặng – nhưng không phải dạng viêm não và viêm dây thần kinh mà công nghệ hiện thời có thể phát hiện ra. Nhiên liệu của virus như kim loại nặng độc hại đứng đầu danh sách những kẻ tạo ra độc tố thần kinh đối kháng. Những nhiên liệu khác có thể là kẻ xúi giục mạnh mẽ mà bạn tìm hiểu trong phần III. Khi não hay thân não bị sưng, sức ép sẽ gia tăng lên tất cả các dây thần kinh nằm gần và đi qua vùng sưng đó. Những dây thần kinh đó lại nhận thông tin từ hệ thần kinh trung ương báo rằng có vấn đề đang xảy ra. Điều này lại tạo ra sức ép lên các dây thần kinh đó, dẫn tới tình trạng hút năng lượng càng nhiều thêm.
Thường thì, ở tình trạng nhiễm virus, mệt mỏi tuyến thượng thận – vốn khác hẳn mệt mỏi thần kinh – cũng có thể xảy đến đồng thời. Nguyên nhân là vì khi virus giải phóng độc tố thần kinh rồi hê thần kinh trung ương bị căng thẳng và viêm nhiễm, tuyến thượng thận phải làm việc vất vả hơn. Người mắc tình trạng mệt mỏi cũng phải vất vả hơn trong sinh hoạt hằng ngày, nên càng dồn ép tuyến thượng thận hơn nữa. Hoặc, ai đó có thể mắc mệt mỏi tuyến thượng thận sau một chấn thương cảm xúc gây suy yếu hệ miễn dịch, từ đó tạo điều kiện cho tình trạng nhiễm virus bùng lên, dẫn tới mệt mỏi do nhiễm virus. Nhưng họ vẫn phải chịu đựng mệt mỏi tuyến thượng thân do chấn thương cảm xúc kia, nên giờ đây họ vừa mắc mệt mỏi tuyến thượng thận, vừa mắc mệt mỏi do nhiễm virus.
Đây là những ca bệnh mà tình trạng mệt mỏi tuyến thượng thận xảy ra tách biệt với mệt mỏi do nhiễm virus (hay mệt mỏi thần kinh) – tức là khi mệt mỏi tuyến thượng thận phát sinh do, chẳng hạn như, căng thẳng quá độ, sử dụng cafein quá độ, sử dụng dược phẩm, gắng sức quá độ, hoặc phơi nhiễm nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh. Tuyến thượng thận tự thân nó sẽ cải thiện dần dần, nên người bệnh sẽ cảm thấy mình đang tiến bộ, nhận được sự khích lệ từ việc khỏe mạnh hơn. Nhưng nếu tình trạng mệt mỏi kéo dài lê thê, thâm chí tồi tệ đi, thì còn có một thứ ẩn giấu phía sau: Tải lượng virus mạn tính. Mệt mỏi tuyến thượng thận vốn không tàn ác như vậy.
Tình trạng mệt mỏi không đồng nghĩa với việc bạn có vấn đề về gen hay sai chức năng thượng thận tự phát, như nó thường bị chẩn đoán nhầm và khiến bác sĩ kê đơn corticosteroid nhằm điều chỉnh tình trạng mất mát hoặc mất cân bằng hormon mà họ phát hiện ra. Thực tế thì, lúc ban đầu, nó thường là vấn đề virus gây suy yếu tuyến thượng thận.
Một số người thấy khổ sở vì mùi hương, bởi hương liệu có độc tính rất cao và gây kích thích dây thần kinh. Hương liệu từ nến thơm, chẳng hạn vậy, có thể gây hại cho những ai đang phải chiến đấu với tình trạng mệt mỏi.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị ME/CFS trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

56. Mất trí nhớ & chứng hay quên

Có nhiều mức độ mất trí nhớ và hay quên khác nhau. Sẽ là rất bình thường nếu ta quên một vài thứ. Sẽ là rất bình thường nếu những ký ức xưa cũ phai mờ khi những trải nghiệm mới dần thay thế chúng. Có lẽ, bạn nhớ rõ một điều rất quan trọng trong suốt một thời gian dài; rồi năm tháng dần trôi, những trải nghiệm và ký ức quan trọng hơn được ưu tiên hơn, nên những điều từng quý giá trước kia trở nên mờ nhạt. Nếu trải qua một ngày hay một tuần bận rộn với rất nhiều việc phải làm, bạn sẽ dễ dàng quên mất những chuyện thường nhật. Nhiều người không mắc bệnh về não, Alzheimer hay sa sút trí tuệ phải dựa vào danh sách việc cần làm để hoàn thành những điều cần thiết. Với quá nhiều kỳ vọng, ta dễ dàng bị phân tâm, lơ là nhiệm vụ, hoặc quên đi mất.
Tình trạng mất trí nhớ và chứng hay quên có thể dai dẳng và gây hại hơn một chút. Chẳng hạn, ai đó có thể thường xuyên quên mất phải viết danh sách những việc họ cần nhớ, hoặc quên ngày sinh nhật trọng đại của thú cưng hay thành viên gia đình mà trước đây họ nhớ như in; rồi tình trạng này bắt đầu cản trở cuộc sống của họ tới mức nó trở thành một vấn đề thực thụ. Khi chứng hay quên và mất trí nhớ chân chính xảy đến, tức là có một số điều đang diễn ra trong não. Nếu tổn thương hay chấn thương không phải yếu tố xem xét, thì kim loại nặng độc hại là nguyên nhân gây mất trí nhớ. Tình trạng nhiễm virus có thể góp phần nào đó. Nếu virus tiêu thụ kim loại nặng độc hại như thủy ngân, rồi giải phóng độc tố thần kinh cản trở các hóa chất dẫn truyền thần kinh, điều này có thể gây nên chứng hay quên và mất trí nhớ nhẹ. Không gì so sánh được tác động trực tiếp của kim loại nặng độc hại đối với não.
Thông thường, vấn đề là kim loại nặng độc hại tương tác với nhau theo những cách tai hại. Các kim loại – như thủy ngân và nhôm – khi phản ứng với nhau sẽ sản sinh ra dòng chảy ăn mòn lan vào mô não lân cận; gây suy yếu, thậm chí phá hủy các tế bào thần kinh; và thấm đẫm các vùng não nơi cất chứa ký ức. Nếu một người quên ký ức cũ mà vẫn nhớ được các sự kiện mới xảy ra, điều này thường khiến các cộng đồng y tế bối rối. Họ chưa nhận ra căn nguyên chân chính: Kim loại nặng độc hại rỉ sét và ăn mòn những vùng lưu trữ ký ức dài hạn trong não. Tình trạng ngược lại cũng có thể diễn ra: Dòng chảy oxy hóa của kim loại nặng độc hại thấm đẫm những vùng cất chứa những ký ức mới đây. Chìa khóa của mình đâu? Mình sống ở phố nào? Mình vừa ghé cửa hàng nào thế? Khi trí nhớ ngắn hạn bị tác động như thế này, nhưng trí nhớ dài hạn vẫn dễ dàng tiếp cận được, điều này là một chỉ báo cho thấy sự khác biệt về vị trí của kim loại nặng độc hại.
Có rất nhiều điểm tinh vi trong vấn đề này, và có thể phải mất tới hàng thập kỷ thì các triệu chứng của chứng hay quên và mất trí nhớ mới phát triển. Nếu dòng oxy hóa chảy theo một hướng nào đó, nó có thể tác động tới vùng não lưu trữ ký ức về những gì mới xảy ra vài phút trước – tức là ai đó vẫn nhớ chuyện xảy ra năm ngoái nhưng lại quên chuyện năm phút vừa rồi. Kim loai nặng độc hại không bao giờ có liều lượng y hệt nhau, hỗn hợp giống hệt nhau và vị trí hệt như nhau ở các cá nhân, nên các triệu chứng mà chúng gây nên cũng mỗi người mỗi khác. Nếu ai đó mắc thêm triệu chứng khác do một vấn đề sức khỏe khác – như một tình trạng nhiễm virus khiến các tế bào thần kinh và các hóa chất dẫn truyền thần kinh phơi nhiễm thêm nhiều độc tố thần kinh – thì tác hại từ những kẻ phá hoại này sẽ góp phần vào loạt triệu chứng độc nhất vô nhị của người đó, khiến vấn đề sức khỏe của họ càng gây bối rối đối với các cộng đồng y tế.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Sương Mù Não và/hoặc Bệnh Alzheimer trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

57. Bệnh MÉNIÈRE

Trong nhiều thập kỷ, các cộng đồng y tế từng cho rằng bệnh Ménière là hâu quả khi sỏi hoặc các tinh thể canxi bị vỡ ra ở tai trong. Hiện nay, họ đã thay đổi lập luận và tuyên bố rằng bệnh Ménière là vấn đề tích dịch và có thể có một tình trạng nhiễm virus – vẫn là một cách nói cho thấy họ chưa rõ nguyên nhân. Các thông tin nguyên bản trong bộ Cơ thể tự chữa lành vẫn luôn khẳng định rằng bệnh Ménière là do nhiễm virus, chứ không phải do tinh thể canxi.
Ménière là tình trạng nhiễm EBV mạn tính – về cơ bản là một dạng chóng mặt, tức là viêm dây thần kinh phế vị. Khi bị các độc tố thần kinh của EBV gây viêm, dây thần kinh phế vị sẽ sưng lên. Tình trạng sưng phồng này tạo nên sức ép, thường là trong cổ và tai. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề thăng bằng mạn tính hoặc định kỳ, khiến bạn cảm thấy chòng chành như thể đang ngồi trên thuyền nhỏ. Triệu chứng chưa chắc đã rõ rệt, mà có khi rất mờ nhạt. Khi thân não bị viêm, tín hiêu thông tin sẽ thay đổi khi rời khỏi thân não để tới dây thần kinh phế vị, khiến dây thần kinh phế vi co cứng. Tình trạng viêm dây thần kinh phế vị còn có thể dẫn tới một loạt trải nghiệm hoa mắt chóng mặt, từ cảm giác hơi biêng biêng cho tới cảm nhận cả căn phòng quay cuồng tới mức bạn không thể nhích một bước mà không phát nôn. EBV còn có thể trực tiếp xâm nhập thân não, nơi dây thần kinh phế vị thoát ra, và gây viêm theo cách tương tự. (Tham khảo chi tiết hơn về tình trạng hoa mắt, chóng mặt trong phần “Chóng mặt & choáng váng”.)
Ở bệnh nhân mắc Ménière, việc gặp phải tình trạng ù tai, dù nhẹ hay nặng, là quá phổ biến. Nguyên nhân là vì độc tố thần kinh của virus thường ảnh hưởng tới mê đạo tai trong, tạo nên tiếng rung, tiếng vù vù hay tiếng vo ve. Nếu ai đó cảm thấy như có tiếng lốp bốp trong đầu, đó là vì độc tố thần kinh gây viêm dây thần kinh phế vị rồi tạo sức ép lên tai trong, cộng với việc độc tố thần kinh trực tiếp gây viêm mê đạo tai trong. EBV cũng có thể xâm nhập dây thần kinh tai trong, gây nên tình trạng ù tai. (Xem thêm phần “Ù tai”)
Tình trạng sinh dịch này không gây có thể kích hoạt quá trình sản xuất dịch. Khi EBV đi vào mê đạo tai trong, nó hoa mắt, chóng mặt hay choáng váng mạn tính. Đúng ra, nó gây nên sức ép, từ đó tạo ra âm thanh lốp bốp hoặc lộp độp. Đôi khi, nếu quá trình sản sinh dịch ở cả hai tai trở nên nghiêm trọng, người bệnh có thể cảm thấy như thể đầu mình đang trôi bồng bềnh. Nếu người mắc tình trạng sản sinh dịch này thấy choáng váng, thì sự choáng váng đó phát sinh do dây thần kinh phế vị bị viêm, chứ không phải do EBV thúc đẩy sản xuất dịch. Một người khác có thể bị mắc tình trạng sản sinh dịch nhưng không thấy chóng mặt, vì dây thần kinh phế vị của họ không bị viêm.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Chóng Mặt & Choáng Váng trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

58. Viêm màng não

Các cộng đồng y tế tin rằng viêm màng não có thể do vi khuẩn hoặc virus. Sự thật là, viêm màng não luôn luôn do virus gây ra. Bản thân virus có thể nằm ở bất cứ đâu trong não; hay như ở nhiều ca bệnh, virus không hề nằm gần não, mà nằm trong gan hay cơ quan khác, hoặc trong máu, dẫn tới những đợt sốt cao và nhiều triệu chứng khác. Viêm màng não có thể là hâu quả của tình trạng nhiễm virus mạn tính đã tồn tại trong cơ thể người bệnh rất lâu (đôi khi hàng thập kỷ); nhưng trong đa số trường hợp, viêm màng não phát sinh do đợt tấn công dữ dội hoàn toàn mới của một tình trạng nhiễm virus cấp tính. Viêm màng não tựa như phản ứng thức tỉnh của cơ thể trước một kẻ xâm lăng mới.
Bạn hẳn nhận ra rằng chúng ta nghe được rất nhiều câu chuyện về các sinh viên đại học mắc viêm màng não. Nguyên nhân là vì khi đi học xa, sinh viên thường có hệ miễn dịch suy yếu do thức khuya lo bài vở, căng thẳng, tiệc tùng, thường xuyên tiếp xúc thân thể hoặc dùng chung phòng tắm và phòng ngủ, rồi lây truyền virus cho nhau trong quá trình ấy. Một nguyên nhân khác khiến bạn nghe được nhiều về viêm màng não ở đại học là vì các chiến dịch điều trị y tế tận dụng tình trạng hệ miễn dịch suy yếu của sinh viên, nhưng không giải quyết được khía cạnh virus ở bệnh viêm màng não. Virus mà sinh viên phơi nhiễm trong trường đại học có thể là những chủng và đột biến hoàn toàn mới của EBV (cụ thể là, tăng bach cầu đơn nhân nhiễm trùng) hoặc loại virus zona hoàn toàn mới herpes simplex 1 hay herpes simplex 2, HHV-6, virus cytomegalo, hoặc HHV-7. Những phơi nhiễm hoàn toàn mới có thể gây nên cơn bão cytokine do virus-khi mà hệ miễn dịch lao vào tấn công quyết liệt nhằm tiêu diệt kẻ xâm lược, đôi lúc khiến cơn sốt tăng vọt lên mức cực cao.
Một số bệnh nhân viêm màng não có thể được chẩn đoán mắc viêm màng não, hoặc mắc cảm cúm, thậm chí không nhận được chẩn đoán nào. Chọc dò tủy sống chưa bao giờ hiệu quả trong việc chẩn đoán căn bênh này, vì cực kỳ hiếm virus nào gây viêm màng não lại được phát hiện thông qua xét nghiệm đó. Ngay cả khi một mầm bệnh như vi khuẩn bị phát giác trong dịch tủy sống, thì điều này cũng không đồng nghĩa với việc vi khuẩn đó chịu trách nhiệm cho các triệu chứng viêm màng não của bệnh nhân. Vi khuẩn chỉ là đồng yếu tố phổ biến đối với tình trạng nhiễm virus. Vi khuẩn hiện diện trong cơ thể của một người đang phản ứng với tình trạng nhiễm virus cấp tính và mới mẻ kia, nên cũng hợp lý nếu vi khuẩn đôi khi lộ diện trong dịch tủy sống – nếu xét nghiệm chuẩn xác và không xảy ra tình trạng lây nhiễm từ bên ngoài. Vi khuẩn hiện diện trong xét nghiệm chọc dò tủy sống không biến vi khuẩn trở thành nguyên nhân gây viêm màng não. Hơn nữa, người ta có thể nhiễm vi khuẩn trong cơ thể và dịch tủy sống suốt nhiều năm mà không phát hiện ra, và cũng không bị ảnh hưởng gì. Nếu người này nhiễm virus gây nên triệu chứng viêm màng não và đi chọc dò tủy sống, vi khuẩn lộ diện trong kết quả xét nghiệm sẽ bị quy tội gây bệnh. Vi khuẩn không thể gây nên tình trạng viêm não ở căn bệnh này, bởi nó không có độc tố thần kinh. Thường thì, thủ thuật chọc dò tủy sống không hé lộ bất cứ điều gì khi người bệnh nhiễm virus nghiêm trọng, nên rất nhiều bác sĩ đủ khôn ngoan đã chẩn đoán viêm màng não bất kể kết quả chọc dò ra sao.
Như chúng ta đã tìm hiểu, tình trạng nhiễm virus mới phía sau viêm màng não thường nằm trong gan hoặc máu, gây nên các triệu chứng viêm não và sốt cao từ xa bằng cách giải phóng độc tố thần kinh – chính độc tố thần kinh này làm bão hòa não, gây viêm và sốt cao. Tình trạng nhiễm virus mới này có thể kích khởi một cuộc chiến khốc liệt giữa hệ miễn dịch và virus, sinh ra lượng lớn phụ phẩm, từ đó góp phần làm tăng cơn sốt. Đôi khi, virus còn khu trú trong lá lách. Chỉ trong những ca cực đoan và hiếm hoi thì virus mới tụ tập trong não. Trong một số ca bệnh, virus rốt cuộc có thể làm nhiễm trùng gan, lá lách và não cùng một lúc.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Viêm Màng Não trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

59. Đau nữa đầu

Có rất nhiều dạng đau nửa đầu, nên có rất nhiều tác nhân kích hoạt. Có hai nguyên nhân tiềm ẩn tạo tiền đề cho hầu hết các dạng đau nửa đầu, cùng với đó là vô số tác nhân kích hoạt có thể lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương đó rồi biến nó trở thành một cơn đau nửa đầu.
Kim loại nặng độc hại, vốn tạo nền móng cho nhiều dạng đau nửa đầu, có thể phân tán ở nhiều vùng khác nhau trong não. Dù chúng ở bất cứ đâu, thì nơi đó sẽ dâng trào một cơn bão điện; khi cơn bão điện nổ ra trong não, chứng đau nửa đầu có thể ập đến với đủ hình dáng và quy mô. Một số người đau nửa đầu thì thấy dấu báo thoáng qua (migraine aura) như vệt hào quang, dù cơn đau có đang diễn ra hay không. Nguyên nhân là do các dây thần kinh thị giác sưng nhẹ – tình trạng này có thể diễn ra ngay cả khi các dây thần kinh đó hoàn toàn khỏe mạnh, không gặp chấn thương hay bệnh lý não. Kim loại nặng độc hại ở các phần não khác nhau có thể gây nên cơn đau những vùng đó – như trước trán, hai bên đầu, sau đầu, hay trên mặt – do một cơn bão điện đang nổ ra tại khu vực đó,
Virus là nguyên nhân chính thứ hai tạo tiền đề cho chứng đau nửa đầu. Tình trạng nhiễm virus EBV, virus zona và herpes simplex là những căn nguyên phổ biến nhất gây đau nửa đầu do virus – khi độc tố thần kinh của chúng trôi nỗi trong máu rồi tụ tập lại ở dây thần kinh phế vị, dây thần kinh sinh ba, dây thần kinh mặt, hoặc dây thần kinh sọ khác, các dây thần kinh đó dễ dàng sưng lên rồi cơn đau đầu hoặc đau nửa đầu sẽ xảy ra. Phơi nắng nóng quá lâu cũng có thể đẩy các dây thần kinh bị viêm tới giới hạn và khơi dậy chứng đau nửa đầu. Hít phải luồng khí độc hại – khói từ lửa trại đầy hóa chất, nước hoa, chất tẩy rửa, nến thơm, xăng dầu, thuốc trừ sâu hay máy khử mùi tạo hương – là tác nhân kích hoạt chủ yếu khác. Những điều này thường bị bỏ qua, và bầu không khí ngày càng bị ô nhiễm bởi những tác nhân đó. Một số người có thể bị nhạy cảm hóa chất và cơn đau đầu lập tức chuyển thành đau nửa đầu khi bước vào một cửa hàng tràn ngập mùi nến thơm, dụng cụ tẩy rửa độc hại, máy khử mùi tạo hương, túi thơm hay nhang. Dược phẩm cũng có thể kích hoạt chứng đau nửa đầu. Trong môi trường hiện tại của chúng ta, hương liệu đã phát triển tới cấp độ cao hơn. Tự thân độc tính của chúng đang dần trở thành một nguyên nhân riêng rẽ, bởi mức độ độc hại của hương liệu đã bắt đầu gây tổn thương trực tiếp tới mô thần kinh.
Hoặc, một tác nhân kích hoạt có thể trông như nguyên nhân gây đau nửa đầu. Trong trường hợp này, điều thực sự diễn ra là các tác nhân kích hoạt – như phơi nắng nóng hoặc loại thực phẩm nào đó – khơi dậy căn nguyên tiềm ẩn như kim loại nặng độc hại trong não và/hoặc tình trạng nhiễm virus cấp thấp mạn tính ở đâu đó trong cơ thể và đang khiến hệ thần kinh trung ương trở nên nhạy cảm. Những nguyên nhân tiềm ẩn khác có thể bao gồm lượng lớn cặn canxi, muối kết tinh và MSG trong não, gây nên khối tắc nghẽn và tạo điều kiện cho bất cứ tác nhân kích hoạt nào khơi dậy chứng đau nửa đầu.
Khi sự căng thẳng kích hoạt chứng đau nửa đầu, không phải chỉ do sự căng thẳng lúc đó – một người khác phải chịu cùng mức độ căng thẳng như vậy chưa chắc đã mắc bệnh. Người mắc đau nửa đầu do căng thẳng thường gặp nhiều trở ngại nhỏ do kim loại nặng độc hại, vì chúng khiến não đôi khi nóng hơn: Nếu số kim loại nặng độc hại nằm ở trung khu cảm xúc não, chúng sẽ nóng lên khi người đó cảm thấy áp lực, nên dễ dàng trở thành tác nhân kích hoạt cơn đau đầu hoặc đau nửa đầu. Các xung điện trong não cũng có thể bị kim loại nặng độc hại làm chệch hướng, từ đó tạo tiền để cho tình trạng đau nửa đầu kinh niên. Các nghiên cứu y khoa hiện vẫn chưa hiểu thấu rằng kim loại nặng độc hại gây
nên chứng đau nửa đầu. Một số người gặp phải tình trạng hệ thần kinh trung ương nhạy cảm hơn do nhiễm nhiều virus cùng một lúc. Một chủng virus zona, cộng với một loại EBV; hoặc hai chủng virus zona kết hợp với hai chủng EBV; hoặc một chủng EBV và một chủng herpes simplex 1; tương tự vậy. Liên cầu khuẩn là đồng yếu tố phổ biến của một tình trạng nhiễm virus và có thể nắm một phần vai trò. Ngoài EBV hay virus zona, người bệnh còn có thể mắc viêm xoang mạn tính do liên cầu khuẩn khu trú trong ổ xoang, gây viêm nhẹ tại đó. Nếu trong không khí có phần hoa, bệnh nhân có thể đau nửa đầu và tưởng rằng chính phấn hoa là nguyên nhân. Không phải thế. Phấn hoa chỉ đơn thuần chạm vào thành ổ xoang bị viêm mà thôi. Phấn hoa chỉ là một tác nhân kích hoạt; liên cầu khuẩn cấp thấp trong màng xoang mới thực sự phải chịu trách nhiệm.
Có vô số tác nhân kích hoạt đau nửa đầu, và hầu hết mọi người gặp phải nhiều tác nhân cùng một lúc. Họ có thể nhận biết được đúng một tác nhân, mà không phát hiện ra những tác nhân khác nữa. Chẳng hạn, ai đó có lượng chất điện giải thấp do mất nước mạn tính; đồng thời tiêu thụ thực phẩm nuôi dưỡng virus (như gluten, sữa, phô mai, chế phẩm bơ sữa khác và trứng) nên khiến virus giải phóng nhiều độc tố thần kinh gây kích ứng và viêm nhiễm dây thần kinh hơn, hoặc tiêu thụ thực phẩm nuôi dưỡng liên cầu khuẩn, từ đó gây viêm ổ xoang – mà họ có lẽ không hề hay biết. Họ sẽ nói rằng do máy tính hoặc điện thoại khiến họ đau nửa đầu.
Một nguyên nhân khiến tình trạng mất nước mạn tính trở thành tác nhân kích hoạt đau nửa đầu là bởi nó khiến cơ thể không thể xả thải độc tố thần kinh, hóa chất vật chất độc hại hoặc dược phẩm lưu cữu ra khỏi máu, nên những thứ đó cứ tích tụ lại. Hầu hết mọi người đều đang sống chung với tình trạng mất nước mạn tính, từ đó khiến các chất dẫn truyền thần kinh mất đi vị khoáng chất mà chúng cần để duy trì sự khỏe mạnh – điều này đồng nghĩa với việc kim loại nặng độc hại trong não có thể gây nên nhiều tổn thương hơn và thúc đẩy nhiều cơn đau nửa đầu hơn. Hãy tham khảo thêm thông tin chi tiết về chứng đau nửa đầu tại cuốn Cơ thể tư chữa lành 1 – Lý giải những căn bênh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đau Nửa Đầu trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

60. Bệnh cơ ti thể

Tổn thương tế bào ti thể phát sinh do tình trạng nhiễm virus mạn tính, kim loại nặng độc hại và độc tố hóa học. Ngành công nghiệp y tế đổ lỗi những tổn thương tế bào ti thể cho gen, và họ cũng nhân tiện quơ gần như mọi tình trạng và bệnh lý liên quan vào dưới tán ô bệnh cơ ti thể.
Quả thực, tổn thương tế bào có thể xảy ra do virus và độc tố. Tức là, khi virus đặc biệt là độc tố thần kinh của virus – gây hư hại ti thể (các bộ phận của tế bào), thì ti thể đó không phải thứ gây nên hàng loạt các triệu chứng và tình trạng liên quan tới bệnh cơ ti thể. Tổn thương tế bào tự nó không gây ra các triệu chứng thần kinh, trừ phi chính các tế bào dây thần kinh bị hư hại. Virus và độc tố khi tiêu diệt các tế bào khắp cơ thể sẽ đẩy tốc độ lão hóa tăng nhanh hơn nhiều – điều này rất khác với việc mắc phải các triệu chứng thần kinh. Bởi đó là khi một tình trạng nhiễm virus làm tổn hại hoặc gây viêm nhiễm các dây thần kinh và tế bào dây thần kinh, để rồi triệu chứng thần kinh hình thành.
Với hơn 60 loại EBV, trên 30 loại virus zona, từ HHV-6 tới HHV-16, cùng hàng chục virus khác thuộc họ herpes, tức là có lượng rất lớn các chủng và đột biến của virus với rất nhiều sở thích nhiên liệu khác nhau. Hầu hết virus đều lựa chọn một loại kim loại nặng độc hại để tiêu thụ, chẳng hạn như thủy ngân. Nhiều virus, ngoài kim loại nặng độc hại, còn chọn ngấu nghiến các chất hóa học tổng hợp mà ngành công nghiệp hóa chất sản xuất ra. Một số đột biến của virus thích “dùng bữa” là nhiều hỗn hợp khác nhau gồm hai hoặc ba kim loại nặng độc hại, độc tố hóa học, dược phẩm, và/hoặc thuốc diệt côn trùng, từ đó sản sinh ra loại độc tố thần kinh có sức phá hoại ghê gớm hơn nhiều. Khi những độc tố thần kinh này thấm đẫm các cơ và tụ tập trên dây thần kinh và trong các cơ quan, tự thân chúng có thể gây nên nhiều tổn hại. Một số chủng virus còn xâm nhập và trực tiếp gây tổn thương tế bào.
Xin nhắc lại, để ai đó mắc phải một triệu chứng thần kinh liên quan tới vấn đề ti thể, virus nhất định phải gây kích ứng, viêm nhiễm, hoặc xâm nhập tế bào dây thần kinh. Tình trạng duy nhất thực sự diễn ra khi ti thể bị tổn thương là tốc độ lão hóa nhanh hơn, bởi các tế bào đang chết đi. Điều này vốn đã và đang xảy đến trong xã hội ngày nay. Con người đang lão hóa nhanh hơn bao giờ hết – bởi virus, kim loại nặng độc hại và chất độc hóa học đang gây nên tình trạng đó bằng cách giết chết các tế bào. Hàng loạt triệu chứng như yếu cơ, đau nhức, tê bì, và bất cứ triệu chứng thần kinh nào khác trên cơ thể đều phát sinh khi dây thần kinh bị viêm do một tình trạng nhiễm virus, chứ không phải do vấn đề ti thể. Chỉ vì ai đó mắc phải tình trạng tê bì, chứng teo, yếu cơ, khả năng vận động hạn chế, thậm chí co giật thần kinh, đều không nghiễm nhiên đồng nghĩa với việc họ mắc bệnh cơ ti thể.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Lý & Rối Loạn Tự Miễn trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

61. Biến động tâm trạng

Chúng ta thường nghe nói rằng biến động tâm trạng là do mất cân bằng hormon. Dù là độ tuổi dậy thì, một chu kỳ kinh nguyệt hay thời kỳ mãn kinh sự biến động hormon đều dễ dàng lọt vào tầm ngắm. Sự thật là, có nhiều sự biến động tâm trạng hơn hẳn so với sự biến động hormon. Khi trạng thái tâm trí của một người biến đổi không phải do chấn thương hay thách thức cảm xúc xảy đến trong đời, thì một nguyên nhân phổ biến gây nên nỗi cáu kỉnh và sầu muộn là dòng máu độc hại. Thậm chí, khi một tình thế khó khăn xảy đến, nếu dòng máu của người đó độc hại, thì họ cũng sẽ nhạy cảm hơn và dễ bị tác động bởi các tác nhân kích hoạt đến từ mâu thuẫn, xung đột, thậm chí cả những đòi hỏi từ công việc thường nhật.
Tôi gọi đó là hội chứng máu bẩn. Khi dòng máu nhiễm độc, tức là nó nhiễm bẩn. Đây là hậu quả của một lá gan quá tải và kiệt sức vì kim loại nặng độc hại, adrenaline, virus, mầm bệnh và những kẻ chống phá não bộ khác mà bạn đã khám phá trong phần III. Khi lá gan-bộ lọc của cả cơ thể – bị trì trệ và tắc nghẽn máu sẽ trở nên độc hại hơn. Bởi vì, các độc tố sẽ đi đâu chứ? Chúng sẽ trôi nổi trong máu và thường thì, sẽ tìm được đường tới não.
Mọi người nhiễm các loại độc tố khác nhau với liều lượng khác nhau nên tác động của chúng đối với mỗi người cũng rất khác nhau. Những độc tố đó thấm đẫm mô não và các tế bào thần kinh, làm suy giảm hóa chất dẫn truyền thần kinh, và có thể thay đổi tâm trạng của người đó. Kim loại nặng độc hại (như thủy ngân và nhôm) có thể tích tụ trong não và tự chúng có thể gây nên biến động tâm trạng mà không cần phải có một lá gan độc hại và dòng máu chứa đầy chất độc và rác thải độc hại. Virus trong não thể ngấu nghiến kim loại nặng độc có hại và giải phóng nhiều hỗn hợp độc tố thần kinh khác nhau, một số chúng hung hãn hơn hẳn và có thể xâm nhập não, gây đoản mạch xung điện ở mức đô thấp, dẫn tới những cơn thất vọng, kích động và cáu kỉnh.
Mọi người còn khác nhau về cách thức cơ thể ứng phó với một tải lượng độc tố. Người này có thể không dễ sa lầy dù lá gan, dòng máu và não bộ của họ đã quá tải vì chất độc và rác thải độc hại. Người khác, với tải lượng độc tố tương tự, lại chìm trong suy sụp và vật vã. Khi ai đó có mức độc hại cao, tâm trạng của họ có thể lên xuống thất thường, lúc cao lúc thấp, và điều này có thể dẫn tới chẩn đoán rối loạn lưỡng cực, trầm cảm, trầm cảm theo mùa (SAD), bênh Tourette hoặc OCD.
Tại sao những người có tải lượng độc tố tương tự nhau lại bộc lộ tâm trạng khác nhau? Thời thơ ấu có thể đóng vai trò nào đó. Nếu một người lớn lên trong một gia đình vô cùng yên bình vào những năm tháng đầu đời, được trao cho sự tự tin và hỗ trợ về mặt cảm xúc – điều này có thể giúp củng cố hành trình và con đường riêng của họ. Người khác có thể thiếu sự hỗ trợ cảm xúc trong quá trình trưởng thành. Ai đó có thể nhận được mọi nguồn lực họ cần thuở thiếu thời; người kia lại phải chật vật vì quá ít nguồn lực hoặc quá nhiều biến động. Tất cả khiến mọi người khác biệt. Rồi còn linh hồn cá nhân nữa – linh hồn vốn độc nhất vô nhị với mỗi chúng ta. Nó có thể trở nên mong manh vì bị hao mòn và tan tác trên bước đường đời. Nhiều người từng bị tổn thương, mà vết thương linh hồn có thể khiến người đó trở nên nhạy cảm hơn, tác động tới cách thức họ ứng phó, xử lý hoặc giải quyết các tình huống liên quan tới người khác. Điều này có thể tự bộc lộ qua tâm trạng.
Một số người có thể gặp phải tất cả các vấn đề kể trên. Họ có thể đang mắc kim loại nặng độc hại trong não; một lá gan nhiễm độc nặng với nhiều mầm bệnh và chất độc đang khiến nó trở nên trì trệ và tắc nghẽn, để rồi tình trạng máu bẩn hình thành; một linh hồn tả tơi do hành trình cuộc đời quá đỗi khó khăn – tất cả cùng một lúc. Hoặc họ có thể đang phải đối phó với một vấn đề, hoặc vài vấn đề. Mỗi người mỗi khác. Tâm trạng to lớn hơn rất nhiều so với vấn đề hormon.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Biến Động Tâm Trạng & Tính Khí Thất Thường trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

62. Rối loạn khả năng vận động (hay mất phối hợp vận động phát triển)

Phơi nhiễm kim loại nặng độc hại (như thủy ngân và nhôm) thời thơ ấu là nguyên nhân phía sau rối loạn này. Khi kim loại nặng độc hại thấm đẫm nhiều vùng não liên quan tới khả năng phối hợp, nói năng, chuyển động, hoặc vận dụng hướng dẫn để thực hiện các nhiệm vụ cơ bản, tức là hoạt động điện bị chệch hướng khi di chuyển tới các tế bào thần kinh. Rối loạn kỹ năng vận động thường mất đi hoặc được cải thiện khi trẻ lớn dần lên bởi bộ não có thể thích nghi với độc tính của kim loại nặng tới mức độ nào đó. Mô não mới tăng trưởng và các tế bào thần kinh mới phát triển ở trẻ mỗi ngày sẽ cho phép hoạt động điện đi vòng qua các khối cặn thủy ngân và nhôm. Trái lại, nếu tình trạng phơi nhiễm kim loại nặng độc hại tiếp diễn trong suốt những giai đoạn phát triển trọng yếu của não bộ, thì việc thoát khỏi rối loạn này sẽ khó khăn hơn nhiều, và những bước thụt lùi có thể xảy đến.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối Loạn Kỹ Năng Vận Động trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

63. Đa xơ cứng (MS)

Có hai nhóm MS chính. Trong một nhóm MS, EBV từ gan giải phóng độc tố thần kinh và gây viêm hệ thần kinh trung ương, tạo ra nhiều triệu chứng dẫn tới chẩn đoán mắc MS. Ở nhóm còn lai, tự thân EBV di chuyển tới não hoặc thân não, gây viêm não và đôi khi là cả những bất thường ở mô não như các thương tổn não. Còn có hàng chục các triệu chứng khác có thể khiến bác sĩ tin rằng người bệnh mắc MS, trong khi thực ra không phải.
Một điều quan trọng cần lưu ý là, các thương tổn não phát triển không đồng nghĩa với việc chúng chính là nguyên nhân gây nên triệu chứng. Đôi khi, bác sĩ phát hiện ra một thương tổn, nhưng người bệnh không cảm thấy bất cứ triệu chứng nào. Nếu bệnh nhân mắc một thương tổn não và bộc lộ nhiều triệu chứng MS, thì các triệu chứng đó thường là do độc tố thần kinh của EBV đang gây viêm hệ thần kinh trung ương. Nguyên nhân bởi, nếu bạn mắc một tình trạng nhiễm EBV đã lan tới não hay thân não, thì (1) EBV có thể giải phóng độc tố thần kinh từ vị trí khu trú mới tại não hoặc thân não, (2) một số EBV vẫn đang sống trong gan và truyền độc tố thần kinh vào cơ thể, cộng thêm (3) trong gan thường có kho chứa lượng lớn độc tố thần kinh tích tụ suốt nhiều năm, và lá gan quá tải sẽ phải thải bớt số độc tố thần kinh lưu cữu này. Độc tố thần kinh từ bất cứ các nguồn nào kể trên đều sẽ góp phần gia tăng triệu chứng thần kinh.
Nếu mắc một tổn thương não, bạn vẫn có thể thân trọng đối phó với tải lượng virus và thoát khỏi các triệu chứng. Tổn thương bạn mắc phải có thể ngừng tiến triển. Nhiều người đã mắc một tình trạng nhiễm EBV từ nhiều năm trước, và các tổn thương nằm đó tựa như vết thương chiến tranh xưa cũ. Ban có thể tiếp tục sống và chữa lành. Một tổn thương não không phải yếu tố quyết định cảm nhận của bạn. Ở những ca hiếm, có nhiều tổn thương não nghiêm trọng và lượng EBV ở não/thân não lớn hơn, từ đó có thể dẫn tới các triệu chứng MS tăng tiến hơn. Nhưng kể cả thế, một khi virus bị tiêu diệt, các triệu chứng có thể chấm dứt dù tổn thương não vẫn còn đó. Bất kể bạn mắc phải dạng MS nào, bí quyết vẫn là truy đuổi EBV. Nguyên nhân chân chính gây nên MS đã được công bố từ ấn bản đầu tiên của cuốn Cơ thể tự chữa lành đầu tiên và đã được nhiều bác sĩ cũng như chuyên gia sức khỏe xem như tài liệu tham khảo về bệnh MS.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đa Xơ Cứng trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

64. Tổn thương bao dây thần kinh MYELIN & viêm đa dây thần kinh hủy MYELIN mãn tính (CIDP)

Nhiều người mắc phải tình trạng này sẽ nhận được nhiều chẩn đoán khác nhau trong quá trình cố gắng xác định xem vấn đề bất ổn là gì. Tình trạng được xem như đã rõ ràng là xảy ra viêm mạn tính và tổn thương bao dây thần kinh myelin, và thường bị nhầm tưởng là bệnh tự miễn. Điều này không chính xác. Vấn đề thực sự diễn ra là tình trạng nhiễm virus mạn tính gây viêm – cụ thể, các chủng virus hung hãn thuộc họ herpes tự bám dính vào dây thần kinh, đó mới là thứ gây tổn thương bao myelin.
Bệnh nhân mắc tổn thương bao dây thần kinh myelin hoặc CIDP thường bị phơi nhiễm lượng lớn một vài loại thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ hóa chất công nghiệp thuộc loại dữ dội nhất, chất tẩy rửa gia dụng, chất giặt tẩy, chất khử mùi tạo hương, nến thơm, dung môi và thuốc xịt nano. Đó là những thức ăn mạnh mẽ đối với loại virus gây tổn thương bao dây thần kinh myelin. Khi ngấu nghiến số nhiên liệu đó, virus sản sinh ra lượng lớn độc tố thần kinh gây viêm nặng. Hệ thần kinh trung ương trở nên dị ứng với những độc tố thần kinh đó, tạo nên tình trạng viêm mạn tính ở những dây thần kinh lớn nằm sâu trong cơ thể, cũng như các dây thần kinh ngoại biên.
Các triệu chứng của tổn thương bao dây thần kinh myelin và CIDP tùy thuộc vào việc liệu virus có tự chủ động bám dính vào các dây thần kinh rồi gây tổn hại bao myelin hay không; hoặc liệu tình trạng viêm do độc tố thần kinh của virus có phải vấn đề hay không. Một số người có thể có tải lượng virus thấp hơn, nên mức độc tố thần kinh thấp hơn, nhưng chủng virus họ mắc phải lại hung hãn hơn, bám chặt lấy các dây thần kinh, gây kích ứng chúng và dần dần phá hủy bao myelin.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tình Trạng Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

65. Tình trạng lo lắng & sợ hãi bí ẩn

Đôi khi, chúng ta biết chính xác tại sao mình e sợ hoặc lo lắng. Đôi khi, dường như cảm giác ấy cứ thình lình xuất hiện. Những trường hợp lo lắng và sợ hãi không thể lý giải đó thường là do một trải nghiệm quá khứ bị kích hoạt mà ta không hề hay biết – bởi vào thời điểm ta đau khổ, bộ não đã dựng nên những bức tường cảm xúc lành mạnh và hiệu quả để giúp ta ứng phó. Đó là những ranh giới mà ta không muốn phá vỡ, những bức tường đó cho phép ta tiếp tục sống mà không liên tục bị gợi nhớ tới những gì đã xảy đến với mình. Các trải nghiệm chưa được giải quyết đó vẫn được ghi chép trong não bộ, vì thế khi ta đụng độ một sự kiện gợi nhắc về quá khứ, nó có thể kích hoạt những cảm xúc ta từng có ngay cả khi ta không hiểu nổi tại sao.
Đa phần thì, những tình huống còn bỏ ngỏ đó liên quan tới các cá nhân khác những người đã không khắc phục hoặc nhận thức được hành vi sai trái của họ. Đôi khi, những việc đã xảy ra thật đáng sợ, quá khích hoặc không thể tưởng tượng nổi. Đôi khi, người ngoài cuộc dường như không thấy khổ sở gì, nhưng chúng ta lại có lý do riêng để cảm thấy tổn thương sâu sắc. Khi ai đó xuất hiện trong cuộc đời ta và gợi ta nhớ đến – dù chỉ trong tiềm thức – về người xưa ấy, thì nỗi lo lắng và sợ hãi bí ẩn có thể trồi lên. Một cánh cổng trên bức tường cảm xúc mở ra vì người mới tới đã đánh thức một ký ức nằm trong trung khu cảm xúc não, phía sau bức tường đó.
Một nguồn cơn đau khổ khác có thể trở lại ghé thăm là chấn thương từ một lần đau ốm hoặc bị thương. Sau khi lành lặn, việc lại cảm nhận được một dấu hiệu về triệu chứng hoặc bất cứ cơn đau nào cũng có thể khiến chúng ta vô thức lo lắng và sợ hãi vì ta e ngại bi ốm đau lần nữa. Điều tương tự cũng đúng với những ai từng chứng kiến người thân yêu mắc bênh. Nếu người thân của bạn bị mệt mỏi quá độ, hoặc mắc cảm lạnh, thậm chí sổ mũi, thì việc chứng kiến họ suy yếu cũng có thể khơi lên nỗi hoảng hốt từ tiềm thức rằng thời kỳ khó khăn đang tái diễn.
Cuối cùng, nếu ai đó quá bận rộn với mọi thứ trong đời – vượt qua từng ngày bằng cơ chế sinh tồn từ thời trẻ mà không nhận được nhiều sự hỗ trợ hay giúp đỡ – rồi một số nỗi căng thẳng rốt cuộc cũng tiêu tan và hoàn cảnh được cải thiện nhờ một vận may, một công việc hay nghề nghiệp mới, một cơ hội nghỉ ngơi, hoặc tình bạn hay mối quan hệ tốt đẹp, thì họ sẽ cần chút thời gian đề “tiêu hóa” những trải nghiệm quá khứ. Bởi người đó không còn trốn chạy nữa, nên quá trình chữa lành có thể bắt đầu diễn ra; điều này đồng nghĩa với việc thải bỏ một số vấn đề khó khăn. Khi cơ thể giải phóng những tổn thương và khổ sở – dù qua giấc mơ ban đêm hay các đợt dâng trào cảm xúc và những giọt nước mắt không thể lý giải nổi vào ban ngày – thì nỗi lo lắng và sợ hãi có thể bùng lên trong quá trình đó. Thường thì, cần tới một năm trải qua mối quan hệ mới, công việc mới, nơi chốn mới, hoặc hoàn cảnh được cải thiện thì quá trình chữa lành mới diễn ra phía sau những bức tường cảm xúc.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tình Trạng Lo Lắng & Sợ Hãi Bí Ẩn trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

66. Chứng ói mửa & buồn nôn bí ẩn

Khi ai đó trải qua tình trạng buồn nôn hoặc ói mửa, điều đầu tiên mà gần như mọi người đều nghĩ đến là liên quan tới dạ dày. Người bệnh đi thăm khám và phàn nàn về chứng buồn nôn sẽ ôm lấy bụng vì đó là nơi họ cảm thấy khó chịu. Sự thật thì, các triệu chứng có thể bắt nguồn từ dạ dày và vùng ruột, nếu tình trạng ngộ độc thực phẩm hoặc cúm dạ dày đứng đằng sau chúng. Trong một số ca, ung thư dạ dày cũng có thể gây buồn nôn và ói mửa, dẫu rằng ở nhiều trường hợp thì đó không phải triệu chứng của căn bệnh này.
Hầu hết các ca ói mửa và buồn nôn bí ẩn đều liên quan tới hệ thần kinh trung ương và các dây thần kinh gần đó. Dây thần kinh phế vị, vốn bắt nguồn từ thân não, là những dây thần kinh quan trọng nhất đối với mọi vấn đề liên quan tới dạ dày. Nếu dây thần kinh phế vị bị kích ứng hay sưng viêm ở bất cứ cấp độ nào dù tại vị trí phía trên gần não hay phía dưới gần dạ dày – thì chứng buồn nôn có thể xảy đến. Dây thần kinh phế vị còn có thể bị co thắt, dẫn tới ói mửa. Thông thường, nguyên nhân gây viêm dây thần kinh phế vị là do một tình trạng nhiễm virus cấp thấp mạn tính đang giải phóng độc tố thần kinh.
Kim loại nặng độc hại trong não, gần chỗ dây thần kinh phế vị, cũng có thể gây buồn nôn. Lần mới nhất phơi nhiễm kim loại nặng độc hại (như thủy ngân) có thể dẫn tới buồn nôn và ói mửa. Chẳng hiếm gặp trường hợp một người đi gỡ bỏ toàn bộ các miếng trám răng hỗn hống thủy ngân rồi sau đó suy yếu vì những triệu chứng kể trên do phơi nhiễm thủy ngân. Nhiều dạng phơi nhiễm thủy ngân do điều trị y tế khác cũng có thể gây nên chứng buồn nôn và ói mửa.
Hơn nữa, đau nửa đầu và những dạng đau đầu khác liên quan tới nhiễm virus hay kim loại nặng độc hại cũng có thể khiến dây thần kinh phế vị trở nên nhạy cảm, từ đó dẫn tới các triệu chứng dạ dày bí ẩn. Chấn thương cảm xúc là một nguyên nhân khác gây buồn nôn và ói mửa. Khi não bộ trải qua cơn sốt cảm xúc hoặc nỗi thất vọng khiến ta cảm thấy trái tim và đường ruột trở nên ốm yếu, thì tất cả đều liên quan tới dây thần kinh phế vị. Nhiễm trùng xoang do liên cầu khuẩn khu trú trong thành ổ xoang suốt nhiều năm cũng có thể gây nên chứng buồn nôn mạn tính như một hậu quả khi dây thần kinh xoang tác động tới dây thần kinh mặt và các dây thần kinh sọ khác, rồi cuối cùng tạo sức ép lên dây thần kinh phế vị.
Có một số trường hợp mà người bệnh bị trào ngược axit do lá gan độc hại hoặc quá tải liên cầu khuẩn hay H. pylori trong đường ruột, dẫn tới SIBO-và điều này cũng có thể dẫn tới chứng buồn nôn. Đây là trường hợp mà dây thần kinh phế vị và những dây thần kinh khác liên quan tới ruột nhân tín hiêu từ các đầu mút dây thần kinh, chứ không phải tín hiệu từ não.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cu thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Các Vấn Đề Dây Thần Kinh Phế Vị và/hoặc Các Vấn Đề Về Dạ Dày trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

67. Chứng ngủ rủ

Chứng ngủ rũ, hay vấn đề tưởng như là chứng ngủ rũ, có nhiều nguyên nhân khác nhau. Đây là một ví dụ cho thấy ngành công nghiệp y dược chưa hiểu rõ khi một người mắc tình trạng nhiễm virus mạn tính dẫn đến mệt mỏi thần kinh, buộc họ phải “tắt” hoạt động thần kinh vào những khoảng thời gian ngẫu nhiên trong ngày và phải tìm chỗ nằm nghỉ để lấy lại sức. Cụ thể, nguyên nhân là do độc tố thần kinh của virus gây viêm hệ thần kinh trung ương, tạo ra sự suy yếu thần kinh, đặc biệt nếu không có đủ điện tích dâng lên trong não và thân não rồi truyền xuống các dây thần kinh sọ. Không phải tình trạng nhiễm virus nào cũng gây mệt mỏi thần kinh dẫn tới buồn ngủ. Trong nhiều ca, tình trạng luôn động đậy/không yên và chứng mất ngủ có thể diễn ra song song với mêt mỏi cực độ. Chứng ngủ rũ do virus là một dạng đặc biệt, bí ẩn trong đó độc tố thần kinh thấm đẫm vùng não kiểm soát giấc ngủ, đây là vùng trung tâm não phần nào bao chứa cả bán cầu não trái, bán cầu não phải, thùy trán và thùy chẩm. Đây cũng là vùng hình trái bóng kết hợp thể chất và linh hồn lại với nhau. Để đối phó với chứng ngủ rũ, người bệnh có thể phải nghỉ ngơi cứ vài tiếng một lần suốt cả ngày, rồi phải kiếm ghế dài, ghế tựa hay góc nhỏ nào đó để chợp mắt; nếu không, họ sẽ liên tục gà gật và rơi vào trạng thái lờ đờ.
Một nguyên nhân khác gây nên chứng ngủ rũ là tình trạng bão hòa kim loại nặng độc hại trong não. Cũng như virus, phơi nhiễm kim loại nặng trong tình huống này có thể dẫn đến hai con đường. Nó có thể gây nên tình trạng không thể ngủ được, hoặc cần ngủ vào những thời điểm ngẫu nhiên, đôi khi kèm theo cảm giác rằng giấc ngủ có thể ập đến bất cứ lúc nào. Nếu giấc ngủ không diễn ra vào thời điểm trọng yếu đó, thì cơn co giật thần kinh dạng nhẹ hoặc cảm giác như “sập nguồn” sẽ diễn ra, bao gồm cả tình trạng nói lắp và yếu cơ trầm trọng. Loại kim loại nặng độc hại chịu trách nhiệm lớn nhất trong chứng ngủ rũ là nhôm. Lượng lớn nhôm tại một số vùng não có thể tạo ra hiệu ứng an thần phá hoại. Khi nhôm bão hòa trung khu giấc ngủ của não, nó khiến giờ ngủ bị rối loạn. Một số người mắc chứng ngủ rũ dạng này có thể trắng đêm rồi ngủ chập chờn suốt cả ngày. Hoặc họ có thể ngủ suốt đêm mà vẫn ngủ lơ mơ cả ngày. Dù thế nào đi nữa, giờ ngủ đều không hề cân đối, đặc biệt nếu người bệnh mắc cả tình trạng viêm do virus và kim loại nặng độc hại tại trung khu giấc ngủ của não.
Các nghiên cứu y khoa tin rằng gen là thủ phạm gây nên chứng ngủ rũ, và họ vẫn đang truy tìm theo manh mối đó.
Hoạt động điện điều khiển giấc ngủ khác hẳn hoạt động điện trong các xa lộ khác của não, bởi hoạt động điện khi ngủ không chịu quản chế của nhu cầu, mong muốn, mục tiêu và tương tác hằng ngày của chúng ta. Khi ngủ, ta không còn là vị sếp nữa.
Thủy ngân đóng vai trò nhỏ trong chứng ngủ rũ, mặc dầu phần lớn là tình trạng bão hòa nhôm; nhôm có tác động an thần khủng khiếp khi nó nằm trong khu vực giấc ngủ của não. Nhôm làm chậm hoạt động của tế bào não. Nếu tại khu vực đó còn hiện diên quá nhiều thủy ngân, thì người bệnh sẽ gặp phải ít vấn đề về giờ giấc ngủ hơn, và mất ngủ nhiều hơn. Nhôm tại đó sẽ dập tắt các tia lửa của xung điên, làm dòng điện suy yếu tới mức đến một lúc nào đó, người bệnh phải đi ngủ bất kể họ đang ở đâu. Mặc dù tình huống có thể xảy đến bất ngờ, nhưng nhiều người bênh đã học được cách dè chừng những dao động và dự báo được nhịp đô của chứng ngủ rũ tới một mức độ nào đó.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Chứng Ngủ Rũ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

68. Đau dây thần kinh ( bao gồm đau dây thần kinh chẩm)

Thuật ngữ đau dây thần kinh liên quan tới một loạt các vấn đề sức khỏe, từ đau xơ cơ cho tới bệnh thần kinh ngoại biên và mọi thách thức khác nằm giữa chúng. Một nguyên nhân gây đau dây thần kinh là một dây thần kinh gặp chấn thương thể chất do tác động từ bên ngoài – và đó là nguyên nhân rốt ráo mà các cộng đồng y tế có thể xác định được. Hầu hết các ca đau dây thần kinh không lần tìm được nguyên nhân rõ ràng như thế. Căn nguyên chân chính nằm ở bên trong, nên nó vẫn còn là một bí ẩn đối với các nghiên cứu y khoa.
Đau dây thần kinh phát sinh do một, hai hoặc cả ba virus sau: Herpes simplex 1 hoặc 2, EBV, virus zona. Cần lưu ý rằng, một người không nhất thiết phải bị phát ban zona thần kinh (herpes zoster) thì mới nhiễm virus zona. Có trên 30 chủng zona, nhiều trong số đó không biểu hiện phát ban, và số đột biến vẫn đang tăng lên. Một số chủng virus zona gây nên nhiều cơn ngứa ran sâu bên trong không dứt nổi, nhoi nhói, giần giật, nóng bừng và đau buốt. Một số chủng EBV có thể gây ngứa ran ngoại biên, cơn đau lang thang/không cố định, châm chích, tê bì và nóng bừng. Một số chủng herpes simplex 1 hoặc herpes simplex 2 có thể gây đau nhức dai dẳng, nóng bừng, cơn đau lúc có lúc không hoặc cơn đau châm chích. Hầu hết mọi người đều mắc một, hai hoặc ba trong số các loại virus này đều đang phải đối phó với tình trạng đau dây thần kinh nghiêm trọng – cơn đau này có thể bộc phát ở bất cứ đâu trên cơ thể vào bất cứ thời điểm nào, đặc biệt khi hệ miễn dịch của họ suy yếu vì nhiều tác nhân kích hoạt khác được thảo luận trong cuốn sách này.
Đau dây thần kinh với virus zona chiếm ưu thế thường lộ diện ở hông, lưng, đùi, bàn chân và vai. Đau dây thần kinh chẩm xảy ra khi virus zona, hoặc herpes simplex 1 hay herpes simplex 2 là virus chiếm ưu thế; nó tác động tới các dây thần kinh gáy, bên đầu hoặc sau đầu, và trên mặt. Trong nhiều ca, virus zona khu trú ở vùng vai và cổ, giải phóng độc tố thần kinh và những độc tố đó tác động tới các dây thần kinh sau đầu, cũng như dây thần kinh mặt và dây thần kinh hoành. EBV cũng có thể đóng vai trò nào đó trong một số triệu chứng kể trên. Đau dây thần kinh với EBV chiếm ưu thế thường bộc phát trên cánh tay, bàn tay, lưng, ngực và cổ. Các cộng đồng y tế còn chưa biết rằng herpes simplex và EBV có thể gây đau dây thần kinh.
Một trong những điều gây bối rối về tình trạng đau dây thần kinh là có quá nhiều triệu chứng khác nhau nên dẫn tới nhiều chẩn đoán khác nhau – tùy thuộc vào bác sĩ. Một bác sĩ có thể diễn dịch những triệu chứng này là tình trạng này, trong khi bác sĩ kia có thể gắn cho nó cái nhân hoàn toàn khác. Đau dây thần kinh không phải một tình trạng có thể xét nghiệm với sự chắc chắn tuyệt đối. Thường thì, cần phải nhiều lần thăm khám lặp đi lặp lại với một bác sĩ và hết xét nghiệm này tới xét nghiệm khác không đem lại kết quả cuối cùng thì người ta mới xác định được vấn đề có thể là gì, khi ấy, giải pháp luôn là một phỏng đoán về những gì thực sự khiến bệnh nhân đau ốm và khớp với những mô tả về một chẩn đoán trong sách giáo trình. Giá mà các bác sĩ được đào tạo để nhận ra rằng tình trạng đau dây thần kinh là do hỗn hợp độc tố thần kinh hung hãn của virus.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Herpes Simplex 1 & Herpes Simplex 2 và/hoặc Zona trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

69. Bệnh thần kinh – cơ ( bao gồm nhược cơ)

Nhóm tình trạng dẫn tới sự yếu cơ và mất kiểm soát thần kinh này phát sinh do hệ thần kinh bị viêm. Thông thường, độc tố thần kinh của virus từ gan sẽ trôi nổi vào dòng máu, gây viêm dây thần kinh tại bất cứ vùng nào trên cơ thể, kể cả các đầu chi. Nếu một chủng hoặc nhiều chủng EBV, thậm chí virus zona, HHV-6, herpes simplex 1 hay herpes simplex 2, hoặc virus cytomegalo tiêu thụ hỗn hợp độc hai gồm kim loại và hóa chất công nghiệp tổng hợp trong gan, thì chúng sẽ giải phóng loại độc tố thần kinh dữ dội với các tác động tới thần kinh-cơ đặc biệt. Trong những ca hiếm hơn, một chủng đột biến hung hãn của bất cứ virus nào kể trên chính là thủ phạm sản sinh loại độc tố thần kinh đó.
Nhiều virus chỉ ưa thích một vài chất độc khu trú trong gan. Một số có khẩu vị tinh vi hơn và tận hưởng nhiều loại chất độc hơn hẳn. Việc tiêu thụ nhiều kẻ chống phá não bộ (như hương liệu và các hóa chất khác) sẽ khiến những virus đó càng trở nên hung hăng và ác hại. Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh thần kinh-cơ đều có lá gan cực kỳ độc hại với thứ hỗn hợp thích đáng gồm kim loại nặng độc hại và nhiều chất độc khác, cũng như có hơn một virus đang trú ngụ trong gan và ngấu nghiến những độc tố và chất độc đó. Độc tố thần kinh ra đời có thể thấm đẫm não bộ, xâm chiếm các tế bào thần kinh, làm suy giảm chất dẫn truyền thần kinh, gây viêm mô liên kết như các tế bào thần kinh đệm trong não. Mô liên kết bị viêm trong não sẽ tạo sức ép lên nhiều dây thần kinh khác bắt nguồn từ não hoặc gần não – như dây dây thần kinh sinh ba và dây thần kinh thần kinh phế vị, dây thần kinh thị giác. Điều này có thể dẫn tới tình trạng méo xệ mặt và xệ cổ, yếu chi, thậm chí liệt dạ dày. Cơ trở nên suy yếu vì các dây thần kinh trong cơ tạm thời bị tê liệt bởi độc tố thần kinh, từ đó cản trở người bênh hoạt động bình thường.
Nhiều ca bệnh thần kinh-cơ cực kỳ nhẹ, còn một số lại nặng hơn. Điều này tùy thuộc vào việc người bệnh mắc chủng đột biến nào, mức độ những kẻ chống phá não bộ trong cơ thể là bao nhiêu, hệ miễn dịch của họ khỏe mạnh ra sao, họ thiếu chất đến mức nào, những kẻ chống phá nào đang hiện diện, và các chủng đột biến của virus đói khát tới đâu.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Lý & Rối Loạn Tự Miễn trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải Cứu não.

70. Bệnh thần kinh ngoại biên (Viêm dây thần kinh)

Bệnh thần kinh ngoại biên và viêm dây thần kinh là hai thuật ngữ rất rộng, đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau, dùng trong chẩn đoán những bệnh nhân mắc từ bệnh Lyme thần kinh, đau xơ cơ, đau dây thần kinh, viêm khớp dạng thấp tới viêm khớp vảy nến. Cả hai đều là do virus, đều dính dáng tới nhiều loại độc tố thần kinh và/hoặc dermatoxin, và đều gây nên một số loại bệnh thần kinh ngoại biên hoặc viêm dây thần kinh – dù chỉ ở mức độ rất nhẹ.
Nhiều ca bệnh thần kinh ngoại biên diễn ra ở đùi, bàn chân và ngón chân. Đây có thể là trường hợp các dây thần kinh ngoại biên bị tổn thương sau một thời kỳ sưng viêm bí ẩn. Đa phần thì, các dây thần kinh này không thực sự bị tổn thương. Cảm giác tê bì, nóng rát và/hoặc đau đớn mà bệnh nhân gặp phải chưa chắc đã do dây thần kinh bị chết. Đúng hơn, nó là do các dây thần kinh bị viêm mạn tính suốt thời gian dài. Các dây thần kinh này có thể bị thương tổn tới một mức độ nào đó, nhưng thường thì chúng sẽ không chết đi.
Nhiều chủng zona gây nên bệnh thần kinh ngoại biên chủ yếu tại phần dưới cơ thể. Herpes simplex 1 hoặc herpes simplex 2 và EBV có thể gây nên một số ca thần kinh ngoại biên thân dưới. Những virus này giải phóng vô số độc tố thần kinh khiến các dây thần kinh này viêm mạn tính. Tình trạng này thường bị nhầm lẫn với tiểu đường, vì một số ca tiểu đường phát triển thành bệnh thần kinh ngoại biên. Sự thật là, số người không mắc tiểu đường nhưng hình thành bệnh thần kinh ngoại biên thân dưới còn nhiều hơn số người mắc tiểu đường bị. Bản thân virus zona có thể bám chặt lấy rồi gây viêm các dây thần kinh ở hông, thắt lưng, cơ hình lê và vùng cơ mông. Virus zona còn có thể gây viêm dây thần kinh hông to, dù các đốt sống có cản trở các dây thần kinh đó hay không. Và không chỉ mỗi dây thần kinh hông to – virus zona còn gây viêm dây thần kinh thẹn trong và dây thần kinh chày, dẫn tới cảm giác đau thần kinh ngoại biên ở thân dưới.
Các chủng virus zona khác nhau hành xử cũng khác nhau – có trên 30 chủng chưa được khám phá ra. Một số chủng virus zona bám vào các dây thần kinh nhất định, gây kích ứng và sưng viêm tại đó, đồng thời giải phóng độc tố thần kinh gây đau dây thần kinh ngoại biên ở những vùng khác trên cơ thể. Virus zona hoặc herpes simplex có thể nằm ở vùng cổ hoặc hàm, gây đau dây thần kinh sinh ba – đây là dạng viêm dây thần kinh mà khuôn mặt trở nên nhạy cảm đến nỗi dây thần kinh khắp mặt, đầu và cổ đều cảm thấy đau đớn hoặc bừng bừng như lửa đốt. Một số người có thể nhiễm EBV, virus zona và herpes simplex cùng một lúc. Các virus này có thể gây viêm dây thần kinh bằng cách giải phóng độc tố thần kinh và dermatoxin sau khi ngấu nghiến những chất độc mà chúng tìm thấy khi khu trú trong gan hoặc vùng cơ thể khác.
Viêm dây thần kinh thị giác là hậu quả khi các dây thần kinh thị giác bị sưng viêm hoặc gặp phải một vài dạng thương tổn hay trở ngại nào đó. Người mắc tình trạng này thường bị chẩn đoán mắc đa xơ cứng (MS) cùng lúc đó. Nguyên nhân khiến họ trải nghiệm đồng thời cả hai tình trạng này là do cùng một virus-EBV – đứng sau các triệu chứng viêm dây thần kinh thị giác và MS. (Tìm hiểu chi tiết về MS tại phần “Đa xơ cứng”.) Virus này có thể trực tiếp gây viêm dây thần kinh thị giác theo hai cách: (1) Nếu là một loại EBV đặc biệt, nó có thể bám chặt lấy dây thần kinh thị giác, tạo “căn nhà” tạm tại đó và trực tiếp gây viêm. Tình trạng này có thể dẫn tới một số tổn thương rõ rệt và thường được điều trị bằng steroid. (2) Trong hầu hết trường hợp, EBV không trực tiếp bám dính lấy một dây thần kinh – đúng hơn, độc tố thần kinh của nó gây viêm dây thần kinh khắp cơ thể. Điều này dẫn tới hàng triệu chẩn đoán MS. Những độc tố thần kinh đặc biệt có thể gây kích ứng dữ dội các dây thần kinh cụ thể trong cơ thể. Dây thần kinh thi giác đặc biệt khi một chủng EBV đặc biệt đang tiêu thụ nhạy cảm; vì thế, trong các trường hợp các chất độc đặc biệt, dây thần kinh thị giác sẽ bị ảnh hưởng. Các vấn đề về mắt thường phát sinh do EBV – chẳng hạn như bệnh cườm nước. Trong các trường hợp khác, chính việc EBV tiêu thụ nhiều kim loại nặng độc hại khác nhau, thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm, hương liệu hoặc những kẻ chống phá não bộ khác, rồi sản sinh nhiều độc tố thần kinh khác nhau lại gây ảnh hưởng tới, chẳng han, dây thần kinh phế vị hoặc dây thần kinh hoành. Mọi người đều khác biệt về những gì họ đang dung dưỡng trong cơ thể, và chính điều đó khiến triệu chứng của mỗi người mỗi khác.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Zona trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

71. Chứng loạn thần kinh

Tham khảo các chương sau
Chương 31, “Chứng lo âu”
Chương 32, “Trầm cảm”
Chương 34, “Rối loạn ám ảnh cưỡng chế”
Chương 35, “Rối loạn lưỡng cực”

72. Tê bì & châm chích

Tê bì và châm chích có thể xảy đến do tình trạng viêm trực tiếp, tức là sưng viêm dây thần kinh khắp cơ thể; hoặc viêm não hoặc thân não, từ đó tác động tới các dây thần kinh. Một con đường để các triệu chứng này bộc lộ là khi một virus (như EBV, virus zona, herpes simplex 1 hay herpes simplex 2, HHV-6, HHV-7, hoặc nhiều chủng và đột biến khác thuộc họ virus herpes ở người) sản sinh độc tố thần kinh. Hầu hết những ai đang phải đối phó với chứng tê bì và châm chích cũng đều đang phải đối phó với độc tố thần kinh của EBV. EBV là virus phổ biến nhất sản sinh độc tố thần kinh – nó sản sinh bằng cách ngấu nghiến thủy ngân, nhôm, và các kim loại nặng độc hại khác, cùng nhiều vật chất độc hại mà nó tìm thấy tại nơi khu trú, như gan hay lá lách. Một khi nó tiết ra độc tố thần kinh như một loại rác thải, số độc tố đó sẽ thấm đẫm máu và có thể tìm được đường tới các cơ khắp cơ thể.
Một con đường khác diễn ra trong ca bệnh viêm cơ (xem thêm tại phần “Bệnh viêm cơ”), độc tố thần kinh thường không tác động tới cơ nhiều như chúng tác động tới dây thần kinh trong cơ. Những dây thần kinh đó sẽ trở nên nhạy cảm và dị ứng với độc tố thần kinh – đó chính là thử khiến chúng sưng lên, gây ra nhiều triệu chứng và có thể bị chẩn đoán thành bệnh thần kinh ngoại biên. Khi ai đó bị tê bì, bác sĩ sẽ dễ dàng cho rằng các dây thần kinh chỗ đó đã chết trong khi ở hầu hết các ca, chúng chỉ bị viêm mà thôi.
Trước khi phát triển tê bì, tình trạng châm chích sẽ diễn ra. Tình trạng này có thể nhẹ tới mức người bệnh không chú ý đến nó; hoặc nó có thể bộc lộ rõ ràng. Cảm giác này, dù người đó có nhận ra hay không, đến từ một dây thần kinh bắt đầu sưng viêm bên trong cơ, dưới da, hoặc xung quanh và bên trong các cơ quan – bởi độc tố thần kinh của virus. Châm chích có thể xảy đến ở bất cứ vị trí nào. Nó có thể xảy ra ở gáy, cánh tay, bàn tay, đùi, ngón chân, bàn chân, ngón tay – bất cứ đâu trên cơ thể, kể cả mũi. Mặc dù châm chích có thể trở đi trở lại tại đúng một vị trí, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Nó có thể di chuyển khắp cơ thể, khi mà nhiều ngày, nhiều tuần, hoặc nhiều tháng, nó diễn ra ở vị trí này, nhưng lúc sau lại ở vị trí khác. Nguyên nhân là vì các dây thần kinh sưng lên rồi bớt sưng – thoát khỏi trạng thái viêm – tùy theo độc tố thần kinh bám vào chỗ nào. Nếu châm chích dường như diễn ra trong đầu, thì tức là độc tố thần kinh có lẽ đã “hạ cánh” trên các dây thần kinh nằm giữa não và sợ, hoặc trên dây thần kinh sọ. Nếu chính virus đó nằm trong hoặc gần não hay thân não, nó có thể gây nên tình trạng châm chích rõ rệt hơn và không thể ngó lơ được bởi độc tố thần kinh không phải di chuyến xa nên không loãng bớt.
Không phải lúc nào tê bì cũng đến sau châm chích. Mặc dù ở nhiều ca, thì đúng là vậy – với tình trạng tê bì nhẹ hay nặng xen kẽ với châm chích, hoặc thay thế vị trí châm chích. Nếu độc tố thần kinh quá dữ dội, thì tình trạng sưng dây thần kinh sẽ nặng hơn, từ đó có thể kìm kẹp hoặc đè ép các dây thần kinh tới mức vùng cơ thể đó trở nên tệ liệt. Nếu một người gặp khó khăn trong việc uống, nhai hay nói nhưng không phải vì đột quỵ, thì nguyên nhân có thể do độc tố thần kinh bão hòa các dây thần kinh kiểm soát miệng và khả năng nói, gây tê liệt tới mức họ cảm nhận được, hoặc không nhận ra – bởi một số dây thần kinh liên quan tới chuyển động nhiều hơn là cảm giác. Nếu độc tố thần kinh thấm đẫm vùng bàn chân, dạng tê bì này thường dễ cảm nhận hơn, bởi bạn đứng trên đôi chân, chứ không phải trên đôi tay. Một số chủng virus đột biến, như các đột biến của EBV hay virus zona, có thể tự bám chặt lấy các dây thần kinh, trực tiếp gây châm chích và tê bì, thay vì chỉ thông qua độc tố thần kinh.
Châm chích và tê bì là hai triệu chứng gần như phổ biến với hầu hết các bệnh nhân Lyme. Như chúng ta đã khám phá trong phần “Bệnh Lyme”, nguyên nhân là vì bệnh nhân Lyme đang phải vật lộn với tình trạng nhiễm virus, chứ không phải do đồng yếu tố vi khuẩn mà ngành công nghiệp y tế vẫn nhầm tưởng. Các triêu chứng thần kinh của bệnh nhân Lyme đều do virus, đây là lý do tại sao châm chích và tê bì xảy đến rất phổ biến với người mắc bệnh Lyme.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đó thanh lọc & công thức giải cứu não.

73. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD)

Xem chương 34, “Rối loạn ám ảnh cưỡng chế”.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

74. Ám ảnh ăn uống lành mạnh (ORTHOREXIA)

Xem chương 33, “Các rối loạn ăn uống”.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Ám ảnh ăn uống lành mạnh (ORTHOREXIA) trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

75. Ăn uống vô độ

Xem chương 33, “Các rối loạn ăn uống”.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ Ăn uống vô độ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

76. Bệnh PARKINSON

Bệnh Parkinson không còn được nhìn nhận như trước nữa. Hiện nay, ngày càng nhiều bác sĩ có xu hướng chẩn đoán bệnh Parkinson căn cứ vào những triệu chứng mà trước đây chưa bao giờ được sử dụng để xác định căn bệnh này. Sân chơi đã được mở rộng. Thời trước, bệnh Parkinson được giới hạn trong các triệu chứng như lẩy bẩy và run dữ dội. Ngày nay, một tập hợp các triệu chứng như cứng người, đau nhức, lú lẫn, trầm cảm và chứng lo âu có thể được phân loại nhầm thành bệnh Parkinson.
Các cộng đồng y tế chưa nhận ra rằng họ đang trộn lẫn nhiều tình trạng. Bởi một bệnh nhân run rẩy dữ dội, họ bèn gộp toàn bộ các tình trạng khác của bệnh nhân đó vào cùng một chẩn đoán Parkinson. Cách mở rộng định nghĩa của bệnh Parkinson đã đạt tới mức mà, ngay cả khi người bệnh không run rẩy và chỉ bộc lộ các triệu chứng khác như sương mù não hay lú lẫn, thì họ vẫn bị chẩn đoán nhầm là mắc Parkinson. Chúng ta cần thận trọng ở điểm này. Chẩn đoán Parkinson chỉ nên được đưa ra nếu bệnh nhân bộc lộ tình trạng lẩy bẩy hoặc run rẩy dữ dội. Các cộng đồng y tế cũng nên mở lòng chấp nhận rằng một bệnh nhân Parkinson có thể đang đồng thời mắc phải nhiều triệu chứng khác.
Nếu được đào tạo và trao cho những công cụ cần thiết, các bác sĩ sẽ khám phá ra căn nguyên của Parkinson là kim loại nặng độc hại gồm thủy ngân, nhôm và đồng trong não tương tác với nhau rồi oxy hóa, khiến dòng chảy bào mòn của chúng lan ra mô liên kết lân cận. Dòng chảy của kim loại nặng độc hại gây tổn thương các tế bào thần kinh, dập tắt xung điện, khiến chất dẫn truyền thần kinh đói khát dòng điện và các nhiên liệu chúng cần để duy trì hoạt động và sự khỏe mạnh.
Đó phần nào là nguyên nhân gây nên mức độ nghiêm trọng của tình trạng run rẩy dữ dội bất tự chủ của bệnh nhân Parkinson. Một nguyên nhân khác là các khối cặn kim loại nặng độc hại và chất gây ô nhiễm lan rộng ra nhiều vùng trong não, bao vây tế bào thần kinh. Các tế bào thần kinh trở nên cực độ nhạy cảm với thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, hương liệu, nến thơm, chất khử mùi tạo hương, nước hoa và xăng dầu – từ đó khiến các hóa chất dẫn truyền thần kinh vốn đã suy yếu càng thêm tồi tê. Tế bào thần kinh bị rối loạn chức năng, còn các hóa chất dẫn truyền thần kinh tàn lụi và mất nước.
Trong trường hợp bệnh Parkinson, kim loại nặng độc hại tích tụ sâu trong não. Mặc dù nồng độ kim loại ở người bệnh có thể cao hoặc thấp, nhưng chắc chắn phải là hỗn hợp đặc biệt gồm thủy ngân, nhôm và đồng tương tác lẫn nhau gây nên tình trạng lẩy bẩy và run dữ dội ở ca bệnh Parkinson “kinh điển”. Nếu bệnh nhân Parkinson còn mắc chứng lo âu và chứng hay quên, thì những thách thức sức khỏe này phát sinh do kim loại nặng độc hại lan ra nhiều vùng khác biệt trong não, với liều lượng khác nhau.
Tuy nhiên, các cộng đồng y dược công khai đang hoạt động mà chưa hề biết rằng kim loại nặng độc hại là căn nguyên chân chính gây nên bệnh Parkinson kinh điển. Họ cũng chưa nhận ra rằng virus có thể dẫn tới những chẩn đoán Parkinson nhầm lẫn. Khi một virus tiêu thụ kim loại nặng độc hại trong cơ thể rồi giải phóng độc tố thần kinh thấm đẫm não bộ, thì tình trạng này có thể gây run rẩy dữ dội, lú lẫn và sương mù não – tải lượng virus mạn tính này có thể bị nhầm thành bệnh Parkinson.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Bệnh Parkinson trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

77. Rối loạn nhân cách

Ngành công nghiệp y tế đã tạo nên tán ô khổng lồ che chở hàng loạt rối loạn nhân cách, hệt như họ đã làm với OCD. Họ gom mọi đặc điểm, hành vi, hành động và tính cách con người vào dưới tán ô rối loạn nhân cách, và rồi đổ lỗi cho gen của chúng ta.
Giữa sự thay đổi tính cách và rối loạn nhân cách là một ranh giới mong manh. Người ta không nên xấu hổ khi thay đổi theo khía cạnh nào đó. Nhiều người thích nếm thử những trải nghiệm mới mẻ nhưng lại có vẻ bất thường trong mắt bè bạn và gia đình. Chúng ta cũng nên được phép sầu bi. Đời sống nào có phải con đường dễ dàng, còn thế giới đâu phải lúc nào cũng là chốn vui vẻ. Những khó khăn thường nhật và công việc hằng ngày có thể khiến nhiều người chán nản và khổ sở. Khủng hoảng “tuổi trung niên” có thể ập đến, ngay cả khi bạn ở độ tuổi 20, 30, 40, 50 hay lớn hơn. Sự thay đổi về tâm trạng, sở thích và tính cách ở bạn có thể khiến những người vốn từng quen với nhịp độ trước đó của bạn thấy hoang mang. Nếu nhịp độ và tiết tấu thay đổi, ai cũng sẽ dè chứng: Mình đang nghe thấy gì đây? Chúng ta cho lớp thanh thiếu niên không gian để khám phá nhiều thể loại âm nhạc khác biệt rồi bắt đầu phục sức và hành động khác đi. Đôi khi, ta cũng cần đến điều đó trên chặng đường đời.
Hãy đặt tất cả những hành vi tự khám phá lành mạnh ấy sang một bên. Sẽ thế nào nếu có yếu tố độc hại rõ rệt hiển hiện trong tâm trọng của một người, hoặc trong cách người đó nhìn nhận về bản thân hay thế giới? Nó có thể khiến những người quan sát bối rối. Liệu người kia có bị trầm cảm không? Làm sao mà họ luôn giận dữ được cơ chứ? Những rối loạn nhân cách có thể được phân loại theo nhiều cách khác biệt đến mức bạn gần như không thể bắt kịp được. Ai cũng có quyền nổi giận. Nhưng tới mức nào? Ai cũng có quyền sầu bi. Nhưng tới mức nào? Nó có rất khác so với cách họ vẫn thường hành động hay cư xử không? Liệu họ có thể gây tổn thương và tàn phá đối với những người xung quanh, thậm chí bản thân họ không? Đây là một số những điều cần được theo dõi để xác định xem liệu một người có mắc rối loạn nhân cách hay không. Thành thật mà nói, ai trên hành tinh này cũng đều có thể nhận được chẩn đoán mắc rối loạn nhân cách tại một thời điểm nào đó trong đời. Nhưng khi tình trạng trở nên cực đoan, rõ rệt, mạn tính, thậm chí gây nguy hiểm tồi tệ cho bất cứ ai, thì khi đó rất có khả năng, bệnh nhân đang phải đối mặt với một rối loạn nhân cách thực thụ, hoặc một rối loạn tâm thần nào khác.
Nguyên nhân là gì? Trước hết, não bộ một người có thể đang phải chịu đựng nhiều vết thương cảm xúc. Khi ai đó trải qua một hay một loạt cú sốc cảm xúc – hết đợt này tới đợt khác trong đời – adrenaline của mỗi cú sốc đó lại là một hỗn hợp khác nhau và có thể gây cháy sém trong não. Những vùng cảm xúc não cụ thể bị tổn thương, như chúng ta đã thảo luận trong chương 5. Về sau, người đó có thể trở nên dị ứng với những thứ gợi nhắc tới nỗi đau của họ. Chỉ riêng điều này thôi cũng có thể biến đổi tính cách của họ, tạo nên một dạng rối loạn nhân cách từ êm dịu tới cực đoan.
Dĩ nhiên, chúng ta cũng cần xem xét vấn đề kim loại nặng độc hại nữa. Có phơi nhiễm nào gần đây không? Phơi nhiễm trước đây? Những phơi nhiễm trong quá khứ đã và đang oxy hóa. Kim loại nặng độc hại dần dần tan vỡ rồi thấm đẫm mô lân cận – điều này có thể gây ra sự thay đổi bất ngờ trong trái tim con người, loại thay đổi có sức phá hoại và bất khả dự đoán, dẫn tới sự biến đổi về cử chỉ, hành vi, quá trình tư duy và nỗi căm ghét của họ.
Đối với một số người, liên cầu khuẩn khu trú trong gan và đường ruột có thể gây nên sự thất thường. Các virus như herpes simplex 1 (virus gây vết loét lạnh và rộp môi) cũng có thể ẩn náu trong gan, rồi giải phóng rác thải độc hại hằng ngày. Nếu số rác thải virus đó đi vào máu, nó có thể khiến tính cách người đó thay đổi theo nhiều phương diện mà họ không hề nhận thức được nguyên nhân. Rác thải của herpes simplex 1 có thể gây sưng dây thần kinh sọ ở cấp độ rất tinh vi, dẫn tới sự biến đổi tính cách ở người đó. Hoặc bạn có thể nổi giận tới mức muốn “nhai đầu” đồng nghiệp bởi bạn đang mắc phải tình trạng nhiễm virus cấp thấp gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương nhưng chưa hề bộc lộ bắt cứ triệu chứng nào – và bạn hoàn toàn không hay biết. Nếu cơn thịnh nộ cứ lặp đi lặp lại, chúng có thể dẫn tới một chẩn đoán rối loạn nhân cách.
Phơi nhiễm hóa chất có thể gây ảnh hưởng sâu sắc tới nhân cách. Một người có thể không gặp phải vấn đề hiện thực nào, nhưng lại phơi nhiễm máy khử mùi tao hương, nến thơm, nước xả vải, nước hoa, thuốc diệt côn trùng và thuốc diệt có tại nhà, rồi họ dường như “mất trí” trong một tuần hoặc hơn – không hành động như bình thường, đưa ra những quyết định quái lạ. Đó là hậu quả khi bị ngắm những hóa chất gây biến đổi não bộ. Điều này cũng có thể khiến họ trở nên nhạy cảm trong tương lai: vì thế, mỗi khi họ phơi nhiễm thêm hóa chất, nó lại thay đổi tính cách của họ thêm một chút, gây nên sự thất thường liên miên hoàn toàn không liên quan tới cốt lõi chân chính của họ.
Còn rất nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới cách chúng ta cảm nhận và hành động – như một lá gan ốm yếu, sưng viêm hay trì trệ; và một chế độ ăn giàu chất béo, dù nó có được gọi là chế độ ăn lành mạnh với nhiều chất béo lành mạnh hay không. Chỉ riêng những điều đó thôi cũng có thể tạo nên nhiều biến động ngoài dự đoán trong hành vi cử chỉ của một người. Khi lá gan bị sa lầy hơn nữa, trì trệ hơn nữa và mất khả năng hoạt động thích đáng theo thời gian, điều này sẽ tác động tới tính cách người đó.
Rồi còn cả vấn đề đau ốm mạn tính nữa. Khi ai đó phải trải qua nhiều thăng trắm suốt thời kỳ đau ốm lâu dài, điều này thường sẽ thay đổi con người họ. Đi thăm khám hết bác sĩ này tới bác sĩ khác để tìm kiếm giải pháp và sự công nhận; mất đi bạn bè, người yêu, bạn đời; tìm thấy những người bạn chân chính; lo lắng về kế sinh nhai; mỗi ngày đều phải vật lộn với cơn đau nhức và nhiều triệu chứng khác – tất cả có thể thay đổi cách bạn nhìn nhận về thế giới và về bản thân. Thường thì, những người gần gũi với bệnh nhân mạn tính sẽ cảm nhận được tính cách của người đó đã thay đổi. Đây là một tình huống rất khác. Mặc dù chìm trong bóng tối có thể kìm hãm chúng ta một thời gian, nhưng một số thay đổi do đau ốm có thể trở thành kho báu quý giá nhất đối với ta.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Rối Loạn Nhân Cách trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

78. Hội chứng nhịp tim nhanh khi đứng (POTS)

Những ai phải sống chung với POTS thực sự chật vật. Sự khôn lường của các triệu chứng POTS có thể khiến nhiều người phát điên. Trong hầu hết các ca POTS, phải mất hàng tháng tới hàng năm thăm khám bác sĩ thì các triệu chứng của người bệnh mới được công nhận. Nguyên nhân của các triệu chứng bí ẩn này là phụ phẩm và độc tố – từng tích tụ trong một lá gan trì trệ, chậm chạp – đã thoát ra và tụ tập quanh van tim. Các triệu chứng POTS còn sâu xa hơn các vấn đề đơn thuần như đứng dậy, cúi người và ngửa người – bởi POTS là một rối loạn do độc tố thần kinh của virus.
Một nguyên nhân khiến POTS khổ sở như thế bởi đây là một tình trạng nhiễm virus mạn tính. Ở POTS, virus Epstein-Barr đã và đang khu trú trong gan lâu dài, rồi chính nó giải phóng độc tố thần kinh gây nên các triệu chứng POTS, từ hoa mắt tới khó tập thể dục, choáng váng, ngất xỉu, mệt mỏi, sương mù não, buồn nôn, đau ngực, mờ mắt, tim đập nhanh và huyết áp không ổn định. Khi lá gan trở nên trì trệ, chậm chạp, quá tải và đầy ngập độc tố virus tích tụ hàng năm trời, thì nhiều khu vực trong gan sẽ bị tắc nghẽn. Điều này khiến máu khó lưu thông qua gan để tới tim hơn, từ đó làm tim luôn trong tình trạng căng thẳng. Khi ai đó vội vã – hoặc nhẹ nhàng – đứng dậy, đi lên dốc, hoặc gắng sức, họ sẽ thấy choáng váng, chóng mặt hoặc ngất xỉu, và nhịp tim của họ có thể tăng cao. Trái tim đang chật vật để hút máu lên từ gan, và điều này có thể khiến huyết áp mất ổn định.
Thường thì, ở bệnh POTS, độc tố thần kinh của virus còn trôi nổi xung quanh các dây thần kinh, thấm đẫm và khiến chúng bị viêm – chẳng hạn dây thần kinh phế vị. Tùy thuộc vào việc vùng nào của dây thần kinh bị bão hòa mà các triệu chứng do virus sẽ rất khác nhau. Nếu dây thần kinh phế vị bị viêm ở phía trên, gần với não, thì tình trạng viêm đó có thể gây nên các triệu chứng khi người bệnh đang rời giường, nhỏm dậy, đứng lên vội vàng, cúi người, cố gắng leo lên đồi, hoặc gắng sức. Đối với một số người, cảm giác tựa như bao cát đè nặng hai đùi, suy yếu toàn thân, thậm chí sắp sụp xuống.
Triệu chứng POTS ở mỗi người mỗi khác, bởi hệ miễn dịch của mỗi cá nhân đều khác nhau, tải lượng virus hoặc các đột biến của virus khác nhau, và dung lượng cất chứa độc tố của gan cũng khác nhau. Thời nay, thường thì, bệnh nhân không chỉ nhận được mỗi chẩn đoán POTS đơn độc. Họ thường thăm khám nhiều bác sĩ và nhân được nhiều chẩn đoán khác. Thông thường, POTS được bọc trong lớp vỏ bênh Lyme, đau xơ cơ, ban đỏ hệ thống, chóng mặt/choáng váng, và/hoặc ME/CFS bởi bệnh nhân đang phải chịu đựng nhiều triệu chứng khác do cùng môt virus đó gây ra (EBV). Sự khác biệt là ở POTS, gan tắc nghẽn và trì trệ hơn, quá tải vì độc tố thần kinh hơn – điều này đồng nghĩa với việc một số vùng của dây thần kinh phế vị rốt cuộc sẽ viêm và sưng to hơn: do đó, một số chuyển động hoặc bất cứ dạng gắng sức nào cũng có thể kích khởi tình trạng hoa mắt, chóng mặt, choáng váng, khó thở, hoặc nhịp tim nhanh. Một lá gan tắc nghẽn kết hợp với tình trạng nhiễm virus sẽ tạo nên những biến số khôn lường.
Triệu chứng nhịp tim nhanh – ở nhiều ca – là nhịp tim nhanh liên quan tới thần kinh, đặc biệt nếu bác sĩ không thể tìm thấy một vấn đề thể chất thực sự ở trái tim. Những thông điệp đi từ não có thể bị chệch hướng khi cố gắng di chuyển theo thân não tới dây thần kinh phế vị rồi tới tim. Trong khi đó, trái tim, về mặt thể chất, vẫn ổn. Những thông điệp thần kinh chệch hướng đó có thể dẫn đến nhịp tim nhanh do thần kinh – tức là, bất cứ chuyển động nhanh nào như quay đầu, nhỏm dậy, hoặc định chạy đi, cũng có thể gửi một tín hiệu không hoàn thiện tới tim, khiến nhịp tim gia tăng.
Mọi kháng thể được phát hiện trong POTS đều không phải chỉ báo cho thấy rằng hệ miễn dịch đang tấn công cơ thể bạn. Thực ra, kháng thể được cơ thể tạo nên để chiến đấu với virus Epstein-Barr. Thay vì chống lại bạn, toàn bộ nhiệm vụ của nó là giúp bạn chiến đấu với mầm bệnh gây nên POTS.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Hội Chứng Nhịp Tim Nhanh Tư Thế Đứng (POTS) trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

79. Loạn thần (rối loạn tâm thần)

Loạn thần có thể diễn ra ở rất nhiều cấp độ. Một tình huống cực đoan là khi người bệnh hoàn toàn mất kết nối với môi trường xung quanh, cứ như thể họ đang dùng “đồ” biến đổi tâm trí – khi mà bạn không thể giao tiếp với họ, họ bị hoang tưởng, họ thấy thứ này thứ kia, họ lạc lối, họ không còn “ở đây”. Nếu ta loại bỏ “đồ” ra khỏi phương trình giải thích tình trạng này – dù đó là dược phẩm kê đơn hay thuốc giải trí kích thích thần kinh – thì một lý giải khác là có một vấn đề đang phát triển trong não họ, chẳng hạn như sự tương tác giữa kim loại nặng độc hại và các dung môi. Cụ thể, chúng ta đang nói tới việc dung môi tích tụ sâu trong não chạm vào kim loại nặng độc hại có mặt tại đó, gây nên phản ứng hóa học. Loạn thần thường không thình linh nổ ra thành cơn cấp tính, dữ dội và nghiêm trọng. Nó thường tích tụ suốt nhiều năm với những đợt phát bệnh nhỏ rồi dần dần tiến triển nặng hơn, dẫn tới đợt bùng phát lớn hơn.
Thông thường, cần tới ít nhất ba kim loại nặng độc hại tích tụ sâu trong não mới tạo tiền đề cho chứng loạn thần; rồi cần tới những dung môi “thích hợp” gia nhập mới gây nên phản ứng. Hãy tưởng tượng một nhà hóa học trong phòng thí nghiệm đang chơi đùa với nhiều kim loại, nhỏ những hóa chất khác nhau lên chúng rồi quan sát và nghiên cứu xem loại phản ứng nào diễn ra. Giờ thì, hãy hình dung tất cả những vật chất đó đều nằm trong não – khi phản ứng qua lại với nhau, chúng có thể khiến một người dễ mắc loạn thần hơn. Cần sa thường kích hoạt chứng loạn thần. Yếu tố quyết định mức độ loạn thần phụ thuộc vào việc cần sa đó sinh trưởng như thế nào, loại hóa chất nào được phun xịt lên cây hoặc tra vào đất. Nhiều dung môi hóa học được sử dụng trong nuôi trồng cần sa. Dược phẩm có thể khiến chứng loạn thần thêm tồi tệ. Nhiều dược phẩm có thể gây nên một đợt loạn thần cấp tính. Adrenaline cũng thường xuyên góp mặt trong phương trình này. Khi ai đó trải qua một cơn loạn thần, thì hệ quả sẽ là adrenaline thấm đẫm não bộ, dẫn đến phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy” và gia tăng chứng loạn thần; thế rồi, chính adrenaline đó cùng với kim loại nặng độc hại và dung môi sẽ đốt cháy lưới điện trong não lúc bấy giờ, điều này có thể khiến cơn loạn thần trở đi trở lại.
Loạn thần dạng nhẹ, với lượng kim loại và dung môi trong não ít hơn, có thể xảy đến khi một người bị đau ốm mạn tính và phải nằm bẹp trên giường quả lâu. Điều này hoàn toàn bình thường và có thể chấp nhận được. Con người không bao giờ nên xấu hổ vì bản thân phát sinh các vấn đề cảm xúc, những chật vật về tâm thần, hoặc PTSD khi ốm đau mạn tính. Tôi từng chứng kiến có , những người bị bong gân mắt cá chân, mắc kẹt trên trường kỷ suốt tháng trời, phải xa rời đời sống bận rộn của mình, trở nên khó chịu và khổ sở vì sự tách biệt và sự thay đổi nhịp đô tới mức họ phát triển chứng loạn thần dạng nhe. Bất cứ dạng đau ốm hay cản trở nào trong đời sống thể chất cũng có thể tạo nên chứng loạn thần.
Trên tất cả, mắc phải một bệnh lý mạn tính còn là dấu hiêu cho thấy tình trạng nhiễm virus triền miên. Tình trạng này tạo ra một lượng lớn rác thải của virus và xác virus, đưa vật chất độc hại vào các hệ trong cơ thể, rồi sau đó thấm đảm não bộ. Amoniac cũng đồng thời hiện diện trong não bởi một lá gan ốm yếu khiến quá trình tiêu hóa suy yếu. Điều này kết hợp với nỗi chật vật vì cảm thấy không có giá trị và không được sống cuộc đời mình mong muốn có thể gây nên chứng loạn thần dạng nhẹ ở bất cứ ai trong chúng ta. Đó không phải dạng loạn thần hoang tưởng mất kết nối với hiện thực cuộc sống. Mà là một dạng rối loạn tâm thần hoàn toàn lành mạnh.
Thông thường, bệnh nhân mạn tính còn nhận phải chẩn đoán mắc trầm cảm, chứng lo âu, các vấn đề tâm thần, loạn thần kinh, thậm chí rối loạn tâm thần -điều này tạo cảm giác như thể những khổ sở của họ đều do họ tưởng tượng ra. Nhưng thực tình, đó là vấn đề thể chất. Mặc dù chúng ta vừa khám phá xem tại sao loạn thần lại là một cuộc đấu tranh cảm xúc tự nhiên, nhưng chỉ tập trung vào khía cạnh tâm thần của tình trạng mạn tính này sẽ khiến ta thất bại. Trước hết, những thách thức về thể chất của người bệnh cần được công nhận. Những gì họ đang phải trải qua thường bị lảng tránh, phớt lờ, hoặc hiểu nhầm – người mắc bệnh mạn tính hoặc tổn thương mạn tính gần như luôn bị hiểu lầm. Khi các phương thức sinh tồn mà họ tìm đến để giúp họ chống chịu qua khốn khó -điều mà bất cứ ai trong chúng ta sẽ làm nếu ta suy sút – bị gán nhãn là vấn đề tâm thần, thì điều này có thể khiến tình hình thêm trầm trọng. Chúng ta cần nhớ rằng bất cứ ai cũng có thể rất dễ phát điên nếu họ liên tục bị hiểu lầm.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Loạn Thần (Rối Loạn Tâm Thần) trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

80. Rối loạn căng thẳng hậu chiến/triệu chứng căng thẳng hậu chấn (PTSD/PTSS)

Có vô số biến thể và mức độ PTSD, đối với hầu hết mọi tình huống mà chúng ta đối mặt.
PTSD là sự kết hợp giữa tổn thương thể chất (hữu hình) và tổn thương siêu hình:
Một khía cạnh của PTSD là vết hằn hữu hình trên mô não – tổn thương tế bào do những luồng điện dữ dội hoặc sức nóng mãnh liệt tại một vùng cụ thể trong trung khu cảm xúc não.
Một khía cạnh khác của PTSD là vết hằn trong tiềm thức và ý thức. Mô não chứa đựng, theo đúng nghĩa đen, một trái bóng năng lượng chứa đầy thông tin, ý nghĩ và ký ức của cuộc đời này – đó là ý thức và tiềm thức, cầu nối giữa mô não với linh hồn.
Một khía cạnh khác nữa của PTSD là vết hằn siêu hình trong linh hồn. Vết hằn này hình thành do bất cứ điều gì, từ một thảm kịch tới một trở ngại thường nhật. PTSD thậm chí có thể hình thành do một vấn đề khó khăn hay khó chịu mà ta phải làm đi làm lại mỗi ngày – chẳng hạn, một công việc buộc bạn phải hoàn thành vẫn những nhiệm vụ y hệt chẳng có lấy chút niềm vui nào suốt một khoảng thời gian đằng đẵng.
Phần nào trong PTSD là linh hồn đang cố gắng xuyên vào trái bóng năng lượng của tiềm thức và ý thức để chữa lành. Tiềm thức và ý thức có mối liên hệ với linh hồn. Ở PTSD, tổn thương linh hồn siêu hình không bị ức chế hay vùi lấp. Thay vào đó, tổn thương linh hồn xâm nhập tiềm thức và ý thức để người đó có thể vượt qua nó; rồi sau đó tiềm thức và ý thức có thể tìm ra cách giải quyết, nhờ vậy mà giúp chữa lành linh hồn và mô não bị tổn thương.
Mức độ PTSD phụ thuộc vào mức độ tổn thương của linh hồn và tổn thương thể chất tại trung khu cảm xúc não. PTSD ở mỗi người mỗi khác. Một người có thể bị tổn thương trung khu cảm xúc nào nhiều hơn, nhưng lại ít tổn thương linh hồn siêu hình hơn. Người khác lại bị tổn thương linh hồn siêu hình nhiều hơn, còn tổn thương thể chất ít hơn.
Một khía cạnh nữa khiến người ta phản ứng khác nhau trước các sự kiện cuộc đời là liệu họ đã từng mắc phải dạng PTSD nào chưa, hoặc liệu đó có phải sự kiện đầu tiên thúc đẩy tổn thương thể chất đầu tiên và tổn thương siêu đầu tiên ở họ hay không. Điều này cũng hình phần nào đóng vai trò trong cách một người ứng phó với PTSD hoặc tốc độ họ vượt qua nó. Nếu người đó chưa từng mắc PTSD trước thảm kịch cuộc đời đầu tiên ấy, thì nó có thể tàn phá hơn so với một người đã phần nào quen gặp phải tình huống bất hạnh, với các kiểu khủng hoảng khác nhau thúc đẩy các mức PTSD khác nhau. Cũng tương tự như việc một người từng đau ốm sẽ đối phó với một triệu chứng mới rất khác một người lần đầu tiên trong đời suy yếu.
Những yếu tố kích hoạt và yếu tố thúc đẩy PTSD phổ biến gồm:
Liên tục thất vọng
Bị phản bội
Niềm tin tan vỡ
Trái tim tan vỡ
Mất mát
Bị ngược đãi
Bị sỉ nhục
Sợ hãi
Không được thấu hiểu
Không được lắng nghe
Căng thẳng về tài chính
Căng thẳng trong gia đình
Bị phớt lờ
Những lời hứa không trọn vẹn
Đột nhiên không còn được hỗ trợ
Căng thẳng tuyến thượng thận quá độ và kéo dài
Các hoạt động và môn thể thao mạo hiểm phụ thuộc vào adrenaline
Adrenaline liên quan đến cafein
Pháo hoa
Tìm hiểu chi tiết về PTSD trong cuốn Cơ thể tự chữa lành 1 – Lý giải những căn bệnh bí ẩn & phương cách điều trị dứt điểm phiên bản chỉnh lý và mở rộng. Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị PTSD trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

81. Chấn lượng do căng thẳng lặp đi lặp lại (RSI) (bao gồm hội chứng ống cổ tay, ngón tay lò xo, hội chứng khủy tay tennis, viêm gân, viêm bao hoạt dịch)

Trong những phiên bản rõ rệt của một chấn thương do căng thẳng lặp đi lặp lại, người bệnh sử dụng một phần cơ thể triền miên hết lần này tới lần khác, thường là với cùng một chuỗi cử động giống nhau, tới mức các cơ bị sử dụng quá nhiều mà không có đủ thời gian chúng cần để chữa lành và hồi phục. Sự suy yếu và tổn thương tạm thời có thể xảy đến. Trong một số ca, người bệnh thậm chí có thể bị thương tật gần như vĩnh viễn, nếu tình trạng sử dụng kéo dài với cường độ cao. Những dạng RSI này rất phổ biến khi công việc của một người liên quan tới lao động thể chất và rất ít thời gian giải lao. Các huấn luyện viên cũng rất thận trọng với các vận động viên; họ học được sự tinh tế ở cách thúc đẩy học viên đi xa tới đâu trong một ca tập kéo dài bao lâu, đồng thời cần tuân thủ những quy tắc nền tảng, cơ bản của tự nhiên và cho phép quá trình chữa lành diễn ra giữa những buổi tập luyện.
Vậy điều gì diễn ra khi ai đó phát triển các dấu hiệu của một dạng RSI mà không dính mắc tới những hoạt động lặp đi lặp lại? Khi một người mắc hội chứng ống cổ tay mà không viết, sơn, vẽ, tạo tác thủ công, hay liên tục dùng máy vi tính hoặc thiết bị? Khi một người mắc chứng khuỷu tay tennis mà không chơi tennis? Khi một người bị viêm gân mà không hề tập thể dục chút nào? Khi một người tự nhiên lại mắc viêm bao hoạt dịch? Khi một người mắc chứng ngón tay lò xo nhưng không hề gõ máy tính suốt ngày dài? Trước hết, nếu gan tràn ngập độc tố thần kinh (do EBV giải phóng khi tiêu thu kim lọai nặng độc hại, thuốc diệt nấm, kháng sinh và nhiều dược phẩm khác) và buộc phải thả chúng vào máu, thì những độc tố thần kinh đó sẽ gây tổn thương dây thần kinh, gân, dây chằng, mô liên kết và mô cơ. Nếu người bênh không có chế độ ăn thích đáng nhằm hỗ trợ loại bỏ số độc tố thần kinh đó, thì chúng có thể tích tụ trên mô và dây thần kinh, bám riết lấy vị trí đó, khiến dây thần kinh trở nên nhạy cảm cao độ và tăng phản ứng. Một trong những cách dây thần kinh phản ứng là thông qua tình trạng viêm nhẹ. Mức độ viêm phụ thuộc vào việc hỗn hợp độc tố nào được bè lũ virus nào trong gan tiêu thu. Chẳng hạn, ai đó có thể có một lá gan chứa đầy dược phẩm, với kháng sinh, thuốc trị cảm lạnh, thuốc trị ADHD, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo âu, thuốc ngủ và thuốc tránh thai đang gia tăng độc tính trong gan.
Tiếp nữa, số độc tố thần kinh đó có thể xâm nhập não – tại đó, chúng tụ hội trên các tế bào thần kinh và mô não liên kết. Độc tố thần kinh còn có thể khu trú trên các dây thần kinh ở những vị trí khác trên khắp cơ thể – những dây thần kinh chạy thẳng tới não hoặc gần não, kết nối với tiểu não, thân não và xương sống. Khi các dây thần kinh gần não nhất dù chỉ hơi bị viêm hoặc kích ứng (do độc tố thần kinh), chúng sẽ gửi tín hiệu đau tới các dây thần kinh khác khắp cơ thể, chẳng hạn dây thần kinh ở cánh tay, bàn tay hoặc đùi. Đây là lý do tại sao rất nhiều người mắc bệnh mạn tính gặp khó khăn trong việc tập thể dục. Không chỉ bởi họ đang phải chịu đựng tình trạng mệt mỏi. Mà còn do chính độc tố thần kinh thấm đẫm các dây thần kinh (thường là những dây thần kinh kết nối với não), thâm chí thấm đẫm não, khiến dây thần kinh khắp cơ thể trở nên nhạy cảm cực đô bởi chúng sẽ co thắt và căng thẳng khi nhân một tín hiêu từ não. Điều này khiến các vấn đề như chấn thương lưng và chấn thương bàn chân (hãy nghĩ tới u thần kinh Morton và viêm cân gan chân) trở nên phổ biến hơn. Nó cũng có thể dẫn tới hội chứng ống cổ tay và viêm gân. Rồi cả các chấn thương vai không liên quan tới khớp mà thay vào đó, là hệ quả từ sự bùng phát tại dây thần kinh trụ khiến ngón út ngón trỏ bị đau.
Nhiều người mắc tình trạng RSI bí ẩn này thỉnh thoảng còn phải chịu đựng chứng đau xơ cơ. Đó là vì EBV chịu trách nhiệm cho cả hai vấn đề này. Những gì virus đang gây ra tại bất cứ thời điểm nào cũng tác động tới việc liệu người đó phải chịu đựng nhiều triệu chứng RSI hơn, hay nhiều triệu chứng đau xơ cơ tổng thể hơn, hoặc tất cả cùng một lúc.
Nhiều khi, EBV có thể tìm thấy vùng bị thương, khiến vùng đó khó lành hơn.
Giấc ngủ cũng là yếu tố bức thiết đối với những người đang phải đối phó với RSI. Giấc ngủ giúp phục hồi các dây thần kinh nhanh chóng hơn, nhờ thế mà hệ miễn dịch có thể nghiền nát và chiến thắng những độc tố thần kinh đang gây viêm dây thần kinh – để từ đó, dù cho bạn dùng cánh tay kỳ cọ khi tắm, dùng chân bước đi, hoặc bất cứ cử động nào từng là một điều chật vật, bạn cũng sẽ không gặp trở ngại.
Khi tìm hiểu về RSI, chúng ta cũng cần thảo luận về các trường điện từ (EMF). Những người mắc viêm gân, hội chứng ống cổ tay, các chứng RSI khác, thậm chí tình trạng mệt mỏi não bộ, thường thấy bản thân nhạy cảm với các thiết bị vi tính. Chẳng hạn, ai đó có thể bị châm chích hoặc tê bì từ ngón tay tới tận khuỷu tay sau khi dùng điện thoại hoặc máy tính bảng quá lâu. Nguyên nhân là vì những người mắc RSI vốn đã nhạy cảm, mà các thiết bị điện tử còn phát ra nhiều tần số, thậm chí cả lượng nhỏ bức xạ. Dù công nghệ hiện tại có phát triển đến đâu, thì nó cũng sẽ lạc hậu khi so sánh với các thiết bị của 30 năm tới – những thứ sẽ không phát ra loại tần số hoặc lượng nhỏ bức xạ đang ảnh hưởng tới chúng ta bây giờ. Thời nay, chúng ta vẫn đang sống với những rung động và năng lượng mà ta không thể nhìn thấy hay cảm nhận được – những thứ đang phát ra từ các thiết bị của ta, bộ định tuyến Internet không dây và các tháp di động. Tất cả chúng đều có thể tác động tới một người mắc tình trạng nhạy cảm dây thần kinh. Đó là một lý do tại sao mắt bạn dễ mỏi hơn nhiều khi nhìn màn hình, và tại sao một số người lại kiệt sức sau khi sử dụng thiết bị nào đó – các thiết bị vi tính hiện đại thực sự có thể hút mất phần nào nguồn năng lượng ổn định của chúng ta. Bạn càng nhạy cảm do độc tố thần kinh hoặc rác thải cấp thấp khác của virus gây viêm dây thần kinh, thì các tần số đó càng dễ kích hoạt RSI ở bạn hơn, ngay cả khi bạn không hề nhận ra điều đó. Hãy tham khảo thêm tại chương 27, “Phóng xạ và trường điện từ (EMF)”.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đau Xơ Cơ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

82. Hội chứng chân không nghỉ (bệnh WILLIS-EKВОМ)

Thông thường, khi đối phó với hội chứng chân không nghỉ, các cộng đồng y tế bắt đầu với phần chân trước. “Có bị chuột rút cơ không?” Họ sẽ hỏi. “Có khi nào đó là vấn đề không? Hãy thử kê gối giữa hai chân khi ngủ buổi tối xem. Hoặc họ sẽ hỏi, “Giường nệm nhà anh thế nào? Có gây khó chịu không? Có nâng đỡ lưng dưới khi nằm ngủ không. Hoặc thậm chí, “Bàn chân thì sao? Giày có nâng đỡ chân không? Có vừa vận và đủ lót chân không? Liệu chân này có ngắn hơn chân kia không?”
Nếu quan sát khu vực phát sinh triệu chứng không đem lại hiệu quả, bác sĩ có thể tiếp tục với câu hỏi: “Tâm trí anh có tỉnh táo quá mức khi chuẩn bị ngủ không? Thử đọc sách xem, hoặc có thể thắp nến và ngâm bồn, nghe chút nhạc êm dịu. Cân nhắc dùng magie xem. Nếu không cách nào hữu hiệu, bệnh nhân thường sẽ được khuyên rằng đã đến lúc thử chụp MRI lưng dưới để xem liệu có vấn đề thoái hóa đĩa đệm hay phình đĩa đệm không. Mà nếu tất cả đều đã được kiểm tra – mà không có dấu hiệu của vấn đề cấu trúc cột sống – thì hội chứng chân không nghỉ sẽ được coi như một bí ẩn y tế. Hiện nay, có một số nhà thần kinh học sẽ bắt đầu nghiên cứu não bộ tới một mức nào đó trong tình huống này. Họ thậm chí còn đề nghị chụp MRI nào để thử xem xem liệu có vấn đề bất thường nào không – có điều, họ sẽ chẳng tìm được nguyên nhân gây nên hội chứng này theo cách ấy. Căn nguyên chân chính của hội chứng chân không nghỉ sẽ không hiển lộ trên ảnh chụp MRI hiện thời. Ngay cả khi kết quả quét chụp cho thấy một khối u não, nó cũng không đồng nghĩa với việc đó là căn nguyên. Và ngay cả khi bệnh nhân có vấn đề về lưng dưới hoặc bất cứ vấn đề nào tương tự thế thì nó cũng không đồng nghĩa với việc đó là nguồn gốc của tình trạng này.
Hội chứng chân không nghỉ có thể phát sinh từ hai con đường. Thứ nhất là, virus zona giải phóng độc tố thần kinh ảnh hưởng tới phần dưới xương sống, gây viêm các dây thần kinh tại đó. Đây là một trong những bí ẩn chưa được khám phá của hội chứng chân không nghỉ. Độc tố thần kinh mà virus zona sản sinh khi đang khu trú trong gan có thể tụ tập ở nhiều vùng cơ thể, tùy thuộc Vào việc độc tố thần kinh đó chứa đựng những gì. Nếu tiêu thụ lượng lớn đồng và chì, virus zona sẽ tiết ra độc tố thần kinh nặng hơn và loại độc tố này có xu hướng tích tụ ở phần dưới cơ thể – vì trọng lượng của chúng; chúng thường sẽ rơi xuống lưng dưới, đùi và bàn chân, gây kích ứng các dây thần kinh và tạo ra những cơn co thắt khó nhận thấy. Một số chủng EBV cũng có thể tạo ra loại độc tố thần kinh nặng hơn này. Người ta có thể trải qua chứng chân không nghĩ suốt cả ngày trong lúc đứng, ngồi và làm việc mà không hề nhận ra cho tới khi nằm yên đi ngủ.
Con đường thứ hai khiến hội chứng chân không nghỉ xảy đến: Độc tố thần kinh của virus, vốn chứa đầy thứ kim loại methyl hóa, xâm nhập não. Mặc dù máu vẫn đi tới não suốt cả ngày khi ta đứng/ngồi, nhưng độc tố thần kinh nặng hơn thường không trôi lên cao được. Tình hình sẽ thay đổi khi ta nằm. Lúc bấy giờ, những độc tố thần kinh trĩu nặng kim loại này có thể nương vào trọng lực để theo máu di chuyển tới não. Một khi tới được não, chúng có thể thấm đẫm mô não, cản trở chất dẫn truyền thần kinh và tế bào thần kinh, làm gián đoạn xung điện. Các thông điệp tán loạn và đoản mạch mà tình trạng này gây ra sẽ dẫn tới cảm giác khó chịu, bồn chồn ở đùi (hoặc cánh tay, hay toàn thân).
Hội chứng chân không nghỉ chưa chắc đã lập tức gây phiền nhiễu cho người bênh ngay khi nằm xuống. Đôi khi, phải một hoặc hai tiếng sau nó mới bùng lên. Bởi, thường thì, các độc tố thần kinh nặng cần tới khoảng thời gian đó mới tuần hoàn rồi tích tụ được. Cùng lúc ấy, chúng có thể gây đoản mạch các chất dẫn truyền thần kinh và khiến người bệnh khó chìm vào giấc ngủ trong khoảng thời gian ấy, trước khi chúng lắng xuống và tạo nên một đợt chân bồn chồn mới. Mau chóng ngủ thiếp đi sẽ giúp vượt qua một đêm chân bồn chồn dữ dội.
Nguyên nhân thứ hai gây nên hội chứng chân không nghỉ – độc tố thần kinh của virus thấm đẫm não bộ – là lý do tại sao người bệnh thường thấy dễ chịu khi ngủ trên ghế tựa nghiêng. Đầu được nâng lên ở độ cao nhất định sẽ ngăn loại độc tố thần kinh nặng di chuyển tới não nhanh chóng. Đây cũng là lý do tại sao họ thường thấy mình phải thức dậy rồi bước nhanh hoặc đi bộ vào bếp – họ đang khiến cho số độc tố thần kinh đó bị trọng lực hút xa khỏi não, mà không hề nhận ra. Ngay cả khi lúc bấy giờ, số độc tố thần kinh đó nhắm tới phần dưới xương sống, vùng bụng, đầu gối hay bàn chân, thì việc đứng dậy cũng giúp người bệnh thấy dễ chịu hơn bởi sự có mặt của độc tố thần kinh trong não sẽ khiến tình trạng trầm trọng hơn một chút.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Viêm Dây Thần Kinh Sọ và/hoặc Zona trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

83. Buồn bả/ ủ rủ

Ở tình trạng buồn bã bí ẩn, một vòng luẩn quẩn tồi tệ có thể diễn ra. Chúng ta không hiểu nổi nỗi buồn của mình, và điều đó càng gây thêm phiền muộn. Và nếu những người xung quanh cũng không hiểu được cảm xúc của ta, hoặc trách cứ ta, thì điều này có thể dẫn tới mối quan hệ căng thẳng với bạn bè, gia đình, đồng nghiệp – từ đó càng tăng thêm phiền não. Thế rồi, còn cả nỗi hoài nghi bản thân khi buồn bã nữa -nghĩ rằng ta không bình thường, hoặc không đủ tốt. Điều đó có thể dẫn tới sự cáu kỉnh, dễ bị kích động, thậm chí hình thành cung cách hành xử theo thời gian.
Trước hết, cần khẳng định rằng con người có quyền được cảm thấy buồn bã. Đó là một phần trong ý chí tự do và sự tồn tại với tư cách thực thể nhân loại có linh hồn. Ngay cả khi người chứng kiến cảm thấy không dễ chịu hoặc khó khăn, chúng ta vẫn có quyền được cảm thấy buồn rầu khi trắc trở ập tới.
Nhưng lại có những nỗi buồn xảy đến dù mọi thứ dường như vẫn ổn – loai đau buồn không giúp chúng ta “tiêu hóa” nổi chật vật, mất mát hay gian nan. Chúng ta đang không nói tới những người đứng ngoài quan sát cuộc đời ta – những cá nhân ấy có thể không hiểu thấu ta, cuộc sống của ta, thế giới và linh hồn ta – nhưng lại nói rằng mọi thứ vẫn tốt mà, nên ta sẽ ổn thôi. Chỉ ta mới có quyền quyết định liệu nỗi buồn của mình có nguyên do không, hay liệu nó vô cớ ập tới chẳng vì lý do nào không. Điều này không nhằm nói rằng nỗi buồn đau bí ẩn chẳng có chút ý nghĩa nào. Không thể xác định nguyên nhân đau buồn không đồng nghĩa với việc nỗi buồn đó không có thật. Chúng ta không cần phải chứng minh cho nỗi buồn. Tuy nhiên, nếu ta muốn vượt qua nó, thì thấu hiểu cách nỗi buồn phát sinh sẽ rất có ích.
Một nguyên nhân gây nên nỗi buồn bí ẩn là những tổn thương năm xưa. Khi bạn trải qua một giai đoạn khó khăn trong đời, đôi khi, adrenaline đi kèm với cảm xúc khó khăn lúc đó sẽ được cất trữ cùng nhiều độc tố mà cơ thể giam giữ đề bảo vệ bạn. Khi cơ thể được thanh lọc hằng ngày, rất nhiều độc tố có thể ngoi lên, cùng với chúng là thông tin cảm xúc dưới dạng adrenaline được cất giữ cùng số độc tố đó. Khi chỗ adrenaline đó tái lưu thông trong cơ thể, bạn có thể trải nghiệm lại nỗi buồn lúc xưa trong suốt quá trình thanh lọc đó. Những túi adrenaline chứa đựng thông tin của năm xưa có khi còn bị giam giữ trong tế bào chất béo – nên khi tế bào chất béo tan rã, quá trình giải phóng adrenaline đó thường đồng nghĩa với việc giải phóng những trải nghiệm cảm xúc cùng với độc tố.
Các cơ quan cũng cất chứa những trải nghiệm cảm xúc kết hợp với độc tố và adrenaline thấm đẫm trong từng tế bào. Bộ não còn đưa công việc này lên một tầm cao mới. Não có thể cất chứa những ký ức và trải nghiệm cảm xúc trong mô tế bào mà không kèm theo độc tố hay adrenaline tích lũy trong những tế bào não đó. Não còn có thể cất giữ adrenaline và độc tố chứa thông tin lưu trữ song song với các ký ức và trải nghiệm. Các độc tố và adrenaline lưu trữ đó có thể mâu thuẫn với những ký ức và trải nghiệm được lưu trữ gần đó, từ đó gia tăng cảm xúc và nỗi buồn. Đôi khi, một trải nghiệm có thể kích hoạt thông tin xưa cũ, khiến ta u buồn mà ta không hể nhận ra rằng chính tác nhân kích hoạt đó mới là thứ gợi nên cảm giác đau thương, dù cho nỗi đau đó đã từ nhiều năm trước.
Thường thì, không chỉ adrenaline được lưu trữ mới khiến ta buồn bã. Còn một dạng nỗi buồn bí ẩn khác đến từ các độc tố trôi nổi trong cơ thể và đã xâm nhập não. Chẳng hạn, khi các rác thải virus như độc tố thần kinh thấm đẫm não bộ, chúng có thể gây suy yếu chất dẫn truyền thần kinh, khiến các chất này phản ứng kém hơn và tình trạng tê liệt cảm xúc xảy ra. EBV, herpes simplex 1 và herpes simplex 2 là một vài trong số các virus giải phóng chất độc và độc tố gây bão hòa hóa chất dẫn truyền thần kinh, tạo nên nỗi buồn phiền, ủ rũ, dù ở mức độ nhẹ nhàng nhất.
Đôi khi, nỗi buồn có thể xảy đến do lần phơi nhiễm độc tố hoàn toàn mới trong thời điểm không liên quan tới tình trạng nhiễm virus hoặc tổn thương quá khứ. Hít phải hương nến thơm vào phổi có thể thấm đẫm não bộ, tạo điều kiện cho một nỗi buồn ập đến và kéo dài suốt nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ dành cho tình trạng Gặp Khó Khăn Trong Ứng Phó, phác đồ điều trị Trầm Cảm, phác đồ điều trị Cảm Giác Tội Lỗi Bí Ẩn Mãn Tính và/hoặc phác đồ điều trị Trầm Cảm Theo Mùa trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

84. Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một tình trạng thể chất. Nó không bao giờ nên được coi như một tình trạng tâm thần hoặc cảm xúc. Nếu ai đó chịu tổn thương nặng nề do bị lạm dụng thể chất hoặc cảm xúc -bởi cá nhân khác hay đoàn thể nào đó thì quả thực, một tình trạng cảm xúc-tâm thần có thể hình thành và tương tự như một dạng tâm thần phân liệt. Thật ra, tình huống rất có khả năng là sự kết hợp giữa OCD nặng với PTSD, trầm cảm, lo âu, mất ngủ – tất cả hợp lại thành một, và vẫn có một nguyên nhân thể chất. Mặc dù tình huống đó có thể tình cờ dẫn tới chẩn đoán tâm thần phân liệt, nhưng nó vẫn là một chẩn đoán nhầm, ngay cả khi các triệu chứng hệt như tâm thần phân liệt.
Bản thân tâm thần phân liệt, khi không có sự lạm dụng thể chất hay cảm xúc, là một câu chuyện khác. Coi nó như một dạng “mất cân bằng hóa học, do gen, hay do mất dopamine đã quá lỗi thời. Sự oxy hóa của thủy ngân độc hại xưa cũ được truyền thừa từ thế hệ này cộng thêm nhôm do các thế hệ gần đây sang thế hệ khác suốt hàng trăm năm, phơi nhiễm, đã cản trở tế bào thần kinh theo một cách đặc biệt, từ đó dẫn tới các triệu chứng tâm thần phân liệt. Sự oxy hóa gây trở ngại các tuyến đường của tế bào thần kinh và gây bão hòa một khu vực chứa nhiều tế bào thần kinh.
Có cả ngàn dạng tâm thần phân liệt tất cả tùy thuộc vào việc thủy ngân và nhôm tích tụ ở đâu và với liều lượng bao nhiều trong não; thủy ngân xưa cũ tới mức nào; mức đô thủy ngân và nhôm oxy hóa ra sao; và chúng đã lan tới đâu. Tâm thần phân liệt phát triển nhanh chóng trong hầu hết các ca bệnh, trái ngược với sa sút trí tuệ cũng do thủy ngân và nhôm gây ra nhưng phát triển chậm hơn. Đây là lý do tại sao người trẻ hơn thường phát sinh tâm thần phân liệt. Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng độc hại lan rộng và phân hủy mau lẹ, dẫn tới những ca tâm thần phân liệt nhanh chóng và đột ngột – sự ô nhiễm phụ phẩm kim loại nặng với tốc độ chóng vánh. Trái lại, ở sa sút trí tuệ, tình trạng oxy hóa diễn ra chậm chứ không nhanh, dần dần thấm vào mô não suốt hàng thập kỷ và tạo ra những triệu chứng diễn tiến chậm như hoang tưởng, lú lẫn, chứng hay quên, những tràng giận dữ, nỗi thất vọng triền miên, và sự bất lực trong việc phân định đâu là hiện thực và đâu không phải là hiện thực. Tâm thần phân liệt có thể có nhiều triệu chứng tương tự bởi cũng là do cùng những kim loại nặng độc hại gây ra. Các triệu chứng có thể bùng phát thành cơn rồi biến mất, bởi sự phân hủy mau chóng của kim loại nặng đầu độc thần kinh dẫn tới những cơn bệnh cấp tính, kéo theo đó là cơ thể và não bộ cố gắng tái điều chỉnh để trở lại trạng thái cân bằng nội môi. Thường thì, cơn bệnh cấp tính phát sinh do sự bùng nổ mạnh hơn gồm các phụ phẩm và dòng chảy của thủy ngân và nhôm (thường được kích thích bởi các biện pháp điều trị y tế hiện thời có ẩn chứa kim loại nặng độc hại [như nhôm và thủy ngân]) kết hợp với cafein.
Nếu ai đó sống dựa vào cafein mà mô não họ lại chứa khối cặn lớn gồm thủy ngân và nhôm đang tan rã, thì phụ phẩm của hai kim loại đó bắt buộc phải có mức độ bão hòa mô não sâu hơn, gần với khối cặn ban đầu, nhờ phản ứng adrenaline do cafein kích hoạt. Một trong nhiều lý do tại sao người ta thường trải qua một cơn phát bệnh tâm thần phân liệt trong khi đang dùng thuốc kích thích giải trí là vì họ cũng đang tiêu thụ lượng lớn cafein. Thuốc kích thích giải trí chứa đầy những dung môi hóa học liều cao, cộng thêm việc người dùng thuốc kích thích giải trí có xu hướng thường xuyên tiêu thụ lượng lớn cafein, gây ra phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy, khơi dậy adrenaline và nhịp tim tăng nhanh, từ đó kích thích và thúc đẩy chỗ phụ phẩm kim loại nặng độc hại đang phân hủy ban đầu thấm sâu vào não hơn. Điều tương tự cũng xảy đến với dược phẩm kê đơn. Dược phẩm chứa rất nhiều thành phần và tác nhân hóa học, những thứ sẽ phản ứng với nhôm và thủy ngân đang phân hủy ở mức cao hơn.
Người mắc tâm thần phân liệt còn đẩy nhanh quá trình oxy hóa. Axit máu của họ cũng cao. Chế độ ăn của họ thường giàu chất béo, trong khi bộ não của họ tha thiết cần glucose. Chưa kể đến những người nhận được chẩn đoán tâm thần phân liệt, hoặc thậm chí các tình trạng gần với nó, thường được thầy thuốc khuyên tuân theo chế độ ăn chứa chủ yếu là chất béo, từ đó càng khiến các triệu chứng trầm trọng hơn nữa. Một chế độ ăn thiên chất béo sẽ làm gia tăng tốc độ oxy hóa của kim loại nặng độc hại gây nên tâm thần phân liệt.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Tâm Thần Phân Liệt trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

85. Co giật thần kinh ( bao gồm động kinh)

Những cơn co giật thần kinh nghiêm trọng rời rạc phát sinh do khối cặn kim loại nặng độc hại lớn, chứ không phải do kim loại nặng rải rác khắp trong não. Đôi khi, thậm chí hiện diện nhiều cụm khối cặn lớn, nhưng thường thì chỉ có một hoặc hai khối cặn mà thôi. Thứ gây nên co giật thần kinh là sự tương tác giữa các kim loại – cụ thể, một hợp kim gồm thủy ngân, nhôm và đồng, cùng với cả ba kim loại đó nằm kế bên nhau, thậm chí phần nào đã được “rèn” lẫn vào nhau thông qua sự trao đổi nhiệt quá độ từ những cơn co giật thần kinh trong quá khứ. Phần lớn những người phải chịu đựng tình trạng co giật thần kinh nghiêm trọng đều đã phơi nhiễm cả ba kim loại này cùng một lúc, chứ không phải từng kim loại riêng biệt vào những thời điểm riêng biệt. Bệnh nhân mắc co giật thần kinh định kỳ thường có bóng mờ bí ẩn hiện ra trong ảnh chụp MRI não. Đó là những dấu vết mà kim loại và sự tác động qua lại giữa các kim loại gây ra.
Một khối cặn hoặc cụm nhiều khối cặn của hợp kim kim loại nặng chưa chắc đã tạo ra nhiều triệu chứng khác bởi chúng không làm gián đoạn các tín hiệu xung quanh theo cái cách mà kim loại nặng độc hại tản mạn khắp não có thể làm. Thứ gây nên những cơn co giật thần kinh nghiêm trọng thường là một phản ứng hóa học của khối cặn hợp kim. Phản ứng hóa học đó có thể đến từ một thứ mà người bệnh đang tiêu thụ – có thể là một số dược phẩm, thậm chí một đợt căng thẳng nặng nề, bởi trong trường hợp đó, adrenaline sẽ tràn ngập não bộ. Bất kể phản ứng hóa học đó là gì nó cũng sẽ sinh nhiệt trong não; mà bởi kim loại dẫn nhiệt, nên nó đưa sức nóng dữ dội đó tới bất cứ nơi nào mà một khối cặn hoặc cụm nhiều khối kim loại tích tụ. Một cơn bão điện sẽ xảy ra vì cơ thể và não bộ sẽ cố gắng tìm lại sự cân bằng – và đó chính là thứ gây nên cơn co giật thần kinh nghiêm trọng. Sau cơn phát bệnh, kim loại nặng độc hại sẽ đan xen và trộn lẫn vào nhau hơn nữa do quá trình trao đổi nhiệt.
Một số dạng co giật thần kinh không chỉ do mỗi kim loại nặng độc hại gây ra. Có rất nhiều yếu tố và nhiều hỗn hợp có thể gây nên co giật thần kinh, như cặn MSG trong não; cặn canxi và natri trong não; virus và phụ phẩm của virus, thậm chí cặn độc tố thần kinh của virus trong não; mô não bị chai sần hoặc đóng sẹo; mô não đang chết dần chết mòn; não thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh nghiêm trọng; não thiếu B12 nghiêm trọng; não bị phơi nhiễm lượng lớn hóa chất độc hại; rồi phụ phẩm và rác thải trong não do mầm bệnh đến từ thực phẩm – danh sách liệt kê này còn chưa đầy đủ. Hầu hết các ca co giật thần kinh đều có căn nguyên đến từ kim loại kết hợp với một hoặc nhiều yếu tố như trên.
Mỗi người đều chứa một lượng kim loại nặng độc hại trong não. Lượng nhỏ kim loại nặng độc hại nằm rải rác cũng có thể đặt nền móng cho tình trạng co giật thần kinh sau này nếu gặp những điều kiện thích hợp. Các yếu tố khác (như kể trên) sẽ khiến não dễ tổn thương hơn khi cơn bão điện khởi phát, từ đó cho phép lượng nhỏ kim loại nặng độc hại hợp lực với độc tính của cặn MSG, cặn canxi, cặn natri, cặn độc tố thần kinh của virus, tình trạng chai sần, tình trạng hóa sẹo, mô não đã chết hoặc đang chết, tình trạng thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh, tình trạng thiếu hụt B12, v.v… để gây nên co giật thần kinh.
Có rất nhiều dạng co giật thần kinh. Một số người nhận được chẩn đoán động kinh vì tình trạng co giật thần kinh của họ. Ở nhiều dạng co giật thần kinh, người bệnh có thể hoàn toàn tỉnh táo và có ý thức khi cơn bệnh bộc phát. Một số dạng co giật thần kinh thể nhẹ, người bệnh vẫn có thể hoạt động được. Một số lại nghiêm trọng hơn, khi mà cơn bệnh chiếm quyền kiểm soát và người bệnh rơi vào trạng thái bị sốc điện, với một cơn bão điện khiến não trở nên quá nóng. Hệ thần kinh trung ương tưởng như bị “sập nguồn”, nên bệnh nhân phải nghỉ ngơi và chữa lành để phục hồi, dù chỉ trong chốc lát. Cũng có tình huống người bệnh gặp phải một yếu tố này nhiều hơn so với các yếu tố khác. Ai đó có thể chứa nhiều cặn MSG hơn, nhiều cặn canxi hơn, ít kim loại nặng độc hại (như thủy ngân và nhôm) hơn một chút, nhiều phụ phẩm của virus (như độc tố thần kinh) hơn. Một điều quan trọng nữa là những độc tố thần kinh đó nằm ở đâu trong não và người bệnh đối mặt với tình trạng này như thế nào. Họ có nản lòng không? Hay giận dữ vì chứng co giật thần kinh? Họ có mất hết tự tin không? Họ có mất hết hy vọng chữa lành không? Tất cả đều đóng vai trò nào đó khi phải chung sống với một rối loạn co giật thần kinh.
Ngay lúc bạn biết một cơn co giật thần kinh đang diễn ra, thì đã từng xảy đến một cơn co giật ở khu vực nhỏ trong não từ trước rồi. Cũng như hiệu ứng gọn sóng, tỏa ra từ phần này tới phần khác của não, rồi đến cuối cùng, bạn cảm nhận được cơn co giật thần kinh khi toàn bộ não bị nhấn chìm trong cơn bão điện.
Một người đã từng trải nghiệm tình trạng co giật thần kinh thường hiểu được những triệu chứng nào là dấu hiệu cảnh báo. Nhiều người tìm được cách ứng phó khi họ cảm nhận được những dấu hiệu đầu tiên của cơn co giật thần kinh. Họ có những kỹ thuật mà bản thân học được nhằm giảm bớt hoặc xoay xở trong cơn co giật thần kinh, để nó không quá tồi tệ hay gây nhiều cản trở. Đối với một số người, tình trạng run rẩy dữ dội là sắp ập đến, hoặc yếu chi là một dấu hiệu, dấu hiệu báo rằng cơn co giật thần kinh hoặc rối loạn Tic hay co thắt, hoặc đau đầu nghiêm trọng. Các kỹ thuật của họ bao gồm tìm một nơi an toàn, giữ bình tĩnh, uống nước để bù nước, nằm xuống nghỉ ngơi, hắt nước lạnh vào mặt, cởi bớt quần áo nếu thấy quá nóng hoặc mặc thêm nếu thấy lạnh, hít thở bầu không khi tươi mới, cảnh báo người thân rằng mình sẽ không sẵn sàng có mặt lúc ấy nếu người đó gặp khó khăn, và dừng mọi việc đang làm để bảo toàn năng lực nhận thức.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Co Giật Thần Kinh trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

86. Co cứng ( bao gồm hội chứng người cứng)

Co cứng là một tình trạng mà chứng nhiễm toan (nhiễm axit) đóng một phần vai trò nào đó. Đây là khi một môi trường axit được tạo ra bởi thực phẩm, hóa chất, phóng xạ, và mức độ căng thẳng cao hoặc không chịu đựng nổi. Phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy” tạo ra thứ adrenaline có tính axit và ăn mòn cao độ. Khi một người phải chịu đựng sự căng thẳng dữ dội, càng nhiều adrenaline được giải phóng. Hoặc khi ai đó sống dựa vào các sản phẩm cafein, càng nhiều adrenaline được tiết ra, từ đó tạo nên một tình trạng axit máu – tình trạng này thường trở thành mạn tính, đặc biệt khi người đó nhiều tuổi hơn, không còn ở độ tuổi 20 hay 30 nữa. Cafein chỉ là một yếu tố góp phần vào tình trạng axít máu dẫn tới co cứng. Còn có giấm nữa. Rồi chế phẩm bơ sữa, dược phẩm, men dinh dưỡng và trà kombucha cũng là những yếu tố đóng góp phổ biến.
Khi rơi vào tình trạng axit máu, chúng ta sẽ mau chóng mất đi canxi từ xương và răng. Canxi là chất đệm và chất trung hòa, giúp duy trì mức axít máu cân bằng hết sức có thể để axit không đạt tới mức nguy hiểm. Những tình thế canxi tí hon rốt cuộc sẽ thấm đẫm mô liên kết quanh dây thần kinh, bên trong cơ và quanh khớp, gây nên cảm giác đơ cứng và cảm giác đó sẽ biến mất khi bạn di chuyển suốt ngày. Nếu còn trẻ, bạn không thể cảm nhận được nhiều những tác động đó. Nhưng khi thời gian dẫn trôi, nếu sự tích tụ này trở thành mạn tính và bắt đầu tăng lên trong não và các cơ quan, cảm giác ấy sẽ tồi tệ đi.
Thứ biến co cứng trở thành một tình trạng mạn tính, nghiêm trọng, phiền phức, thậm chí dẫn đến chẩn đoán hội chứng người cứng, là khi virus và kim loại nặng độc hại trộn lẫn vào nhau. Virus như EBV, giải phóng thứ độc tố thần kinh sẽ bám dính lấy dây thần kinh. Khi độc tố thần kinh của virus thấm đẫm mô liên kết và các dây thần kinh khắp cơ thể, nó sẽ phóng đại co cứng lên một cấp độ mới, biến tình trạng này trở nên cực kỳ khó chịu.
Mà nếu kim loại nặng độc hại có mặt trong não, cản trở các xung điện và tế bào thần kinh, điều này cũng có thể gây ra một dạng co cứng. Nguyên nhân là vì tín hiệu được truyền đi trên các dây thần kinh bị kim loại nặng độc hại kéo căng, nên không còn mạnh mẽ như ban đầu nữa. Nếu não và các dây thần kinh hoạt động ở mức tối ưu và người đó sở hữu một hệ thần kinh trung ương khỏe mạnh, thì tình trạng co cứng phát sinh do nguyên nhân khác sẽ rất nhỏ. Vào khoảnh khắc xung điện phải chịu sức căng – trong trường hợp này, sức căng đến từ kim loại nặng độc hại trong não – thì các dây thần kinh sẽ không có tỷ lệ sức mạnh cao để bổ khuyết và chế ngự tình trạng co cứng đang diễn ra.
Nếu ai đó đang phải đối mặt với nhiều nguyên nhân gây co cứng cùng một lúc – tình trạng axit máu dẫn tới tích tụ canxi, độc tố thần kinh của virus thấm đẫm cả dây thần kinh lẫn mô liên kết, và/hoặc kim loại nặng độc hại trong mô não cộng thêm vấn đề methy hóa nghiêm trọng, khi gan không thể thực hiện methyl hóa hoặc chuyển hóa vitamin và dưỡng chất (như B12), tình trạng co cứng sẽ trở nên nặng nề.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phát đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

87. Đột quỵ ( bao gồm cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA))

Một nguyên nhân gây nên đột quỵ là khi một kẻ xâm lược ngoại lại tiến vào cơ thể. Kẻ xâm lược ngoại lại đó, đại đa số trường hợp, là một mầm bệnh. Đôi khi, kẻ xâm lược đó có thể là một độc tố hoặc vật chất độc hại. Nếu kẻ xâm lược, như một loại virus hoặc vi khuẩn, xâm nhập cơ thể qua miệng hay phổi thì nguy cơ nó gây nên đột quỵ rất nhỏ. Thường thì, kẻ xâm lược gây nên đột quy xâm nhập cơ thể qua da, thấm thẳng vào máu – tại thời điểm đó, mầm bệnh hay hóa chất độc hại đó sẽ bị cơ thể coi là một hiểm họa. Các tế bào bạch cầu có gắng tấn công và tiêu diệt kẻ xâm lược, để nó không thể nhân lên và tạo ra tình trạng nhiễm trùng khiến người đó ngã quỵ. Nhưng kẻ xâm lược này không dễ dàng bị hạ gục, và cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Càng nhiều tế bào bạch cầu cố gắng đến giải cứu; cuối cùng, một nhóm rất đông tế bào bạch cầu sẽ bao vây kẻ xâm lược. Nếu tình hình này không được giải quyết trước khi khối tế bào bạch cầu bọc kín kẻ xâm lược đi vào não, thì nguy cơ xảy ra đột quy sẽ cao hơn nhiều. Khi khối bạch cầu vây kẻ xâm lược đi tới các mạch máu nhỏ trong não, tình trạng tắc nghẽn có thể xảy ra và chúng ta có thể trải qua một cơn đột quỵ, với mức độ từ nhẹ tới nặng.
Tình trạng nhiễm virus cũng có thể gây nên cơn đột quỵ nhẹ. Đây là những tình trạng nhiễm virus không được hệ miễn dịch kiểm soát kịp thời. Lũ virus trốn chạy khỏi hệ miễn dịch và vẫn duy trì hoạt động trong cơ thể suốt nhiều năm. Những virus, như EBV, cũng có thể gây nên hội chứng Guillain-Barré mà nhiều ca bệnh nghiêm trọng có thể tương tự như đột quỵ. Hoặc một người có thể mắc một tổ hợp: Đột quỵ do virus cộng với một tình trạng khác cũng do virus đó. Nếu hệ miễn dịch suy yếu triền miên và tải lượng virus cao, rất có khả năng virus đó sẽ tìm được đường tới não, bởi nó đã lẫn trốn được hệ miễn dịch rồi gây nên ME/CFS, tình trạng viêm trong não và bệnh viêm não – một vấn đề nếu trở thành mạn tính suốt nhiều năm, sẽ dẫn tới đột quỵ khi bộ não lão hóa. Khi chúng ta nhiều tuổi hơn, mô não và mạch máu sẽ co lại.
Chúng ta thường cho rằng căng thẳng gây nên đột quỵ. Nhưng chúng ta không nhận ra rằng, căng thẳng khiến hệ miễn dịch suy yếu, từ đó tạo điều kiện cho mầm bệnh lây nhiễm và gây đột quỵ. Các mạch máu trong não co hẹp lại khi chúng ta giận dữ hoặc căng thẳng dữ dội. Tuy nhiên, người đó cần phải dễ tổn thương trước nhiều yếu tố khác – như tình trạng nhiễm virus cấp thấp, kim loại nặng độc hại, mất nước lâu dài, và chế độ ăn giàu chất béo – mới tạo nền móng cho đột quỵ. Chất béo trong máu liên tục ở mức cao đồng nghĩa với việc ít oxy tới não hơn; và khi trở nên quánh đặc, máu sẽ di chuyển chậm hơn nhiều trong các mạch máu não. Đây chính là tiền đề cho nhiều vấn đề khác. Nồng độ oxy trong máu não càng thấp, nguy cơ virus phát triển mạnh mẽ càng cao, vì thiếu oxy để giữ cho hệ miễn dịch được khỏe mạnh. Các tế bào bạch cầu cần oxy để tồn tại và ngăn cản virus tới não.
Chất béo trong máu cao cũng tạo nên môi trường axit, bởi chất béo có tính axit. Kết hợp với sự co hẹp mạch máu do căng thẳng cao độ, giận dữ, lo lắng và sợ hãi – cộng thêm tình trạng thiếu nước mạn tính vì tiêu thụ nhiều muối và cafein, nhưng chế độ ăn không đủ trái cây, rau xanh lá bản, nước ép hoặc nước trắng – thì môi trường axit này sẽ khiến nhiều khu vực trong não (những nơi vốn đã sinh mô sẹo do kim loại nặng độc hại, độc tố hóa học, dược phẩm, vết thương cảm xúc, hay cặn MSG) càng trở nên dễ tổn thương hơn. Hệ quả là, khi một tình trạng nhiễm virus cấp thấp xảy ra – thậm chí như cảm cúm hay COVID – nguy cơ dẫn đến đột quỵ hoặc TIA tăng cao.
Trong một số trường hợp, cặn mảng bám trong thành mạch máu vỡ ra cũng có thể gây nên đột quỵ.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Đột Quỵ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

88. Rối loạn TIC & co thắt

Những triệu chứng này thường là hậu quả khi kim loại nặng độc hại, chủ yếu là thủy ngân và đồng, hiện diện trong não – nhiều khi là ở thùy trán hoặc thân não. Khi một xung điện di chuyển qua các khớp thần kinh và đi vào tế bào thần kinh, nếu nó va phải một khối cản đồng hoặc thủy ngân (hoặc hỗn hợp hai kim loai này), nhiều khi xung điện sẽ tích điện, tạo ra một tia lửa bắn ngược trở ra. Thủy ngân và đồng trộn lẫn có thể khiến tia lửa bắn ngược lên đầy bất trắc. Những tia lửa này có xu hướng bắn điện ra bên ngoài khớp thần kinh, truyền một điện tích qua dây thần kinh sọ và các dây thần kinh khác – như dây thần kinh phế vị, dây thần kinh mặt, dây thần kinh sinh ba, dây thần kinh thị giác, dây thần kinh hoành và/hoặc dây thần kinh tủy sống. Một tia lửa có thể truyền cảm giác máy giật hoặc co thắt tới mặt, cánh tay, bàn tay, cổ, mắt, hoặc dọc xuống lưng và bắp đùi.
Rối loạn tic và co thắt của một người phụ thuộc rất lớn vào việc có bao nhiêu thủy ngân và/hoặc đồng trong não họ, hỗn hợp cụ thể của hai kim loại đó là gì (bao nhiêu phần thủy ngân và bao nhiêu phần đồng), và chúng nằm ở đâu.
Những virus tiêu thụ đồng – như EBV, herpes simplex 1 và herpes simplex 2, virus zona – có thể góp phần vào vấn đề. Độc tố thần kinh mà virus sản sinh có thể khiến tình huống thêm trầm trọng; vì nếu virus ngấu nghiến đồng hoặc thủy ngân ở bất cứ đâu trong cơ thể, chúng sẽ giải phóng độc tố thần kinh gốc đồng và/hoặc gốc thủy ngân. Khi các độc tố đó trôi nổi trong cơ thể, chúng có thể đi đến não và gia tăng tình trạng của bênh nhân.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đó thanh lọc & công thức giải cứu não.

89. Ù tai

Khi tổn thương do cường độ âm thanh được loại trừ và bạn không làm việc gần máy móc hạng nặng suốt nhiều năm, không hoạt động trong ngành công nghiệp âm nhạc xoay quanh các buổi biểu diễn nhạc sống, không bị tổn thương tai hay gặp bất cứ tác động bên trong nào tới tai – nếu nhận được chẩn đoán ù tai bởi bạn nghe thấy tiếng rung hoặc tiếng vo ve trong tai, thì bạn đang phải sống chung với tình trạng viêm do virus.
Ù tai không nhất thiết là phải nghe thấy tiếng rung trong tai. Có thể là tiếng vo ve, vù vù, ầm ì, lộp độp, lạch phạch, lách tách hay đôm đốp. Dù người đó nghe thấy tiếng rung the thé trong tai, nhưng nó có thể thay đổi, biến chuyển và dao đông khi quạt hay điều hòa được bật lên, hoặc khi mở nhạc. Một số người cảm thấy như nghe tiếng gió rít trong tai. Số khác cảm nhận được tiếng lép bép, như thể họ đang nổ bỏng ngô trong tai. Chứng ù tai có thể biến thiên từ nhẹ tới nặng. Người ta thường trải qua những thoáng chốc như nghe thấy tiếng rung trong tai rồi hết ngay. Cảm giác ấy được diễn giải thành “Có người đang nói chuyện với anh” hoặc “Các lực lượng thiên thần đang trò chuyện với anh”. Điều mà hầu hết những người từng trải nghiệm chứng ù tai thoáng chốc ấy phát hiện ra là, đến cuối cùng, tiếng rung đó sẽ kéo dài lâu hơn một chút. Họ sẽ đi tới thời điểm hoàn toàn thoát khỏi giai đoạn “Hẳn phải có ma quỷ hay linh hồn hay thiên thần hay người nào đó đang nói chuyện với anh” và nhận ra rằng, họ đang phát triển một bệnh trạng.
Đôi khi, phải mất nhiều năm xảy ra tình trạng tiếng rung từng cơn trong tai rồi mới nhận được chẩn đoán ù tai. Nhiều khi, mất thính lực cũng có thể đến cùng ù tai, bởi tiếng rung quá mạnh. Trong nhiều trường hợp, dù tiếng rung không dữ dội, khả năng nghe cũng có thể mất đi.
EBV là nguyên nhân số một giải thích tại sao người ta mắc chứng ù tai bí ẩn. Hai điều có thể xảy đến với EBV là:
Một, độc tố thần kinh mà virus giải phóng gây tổn thương dây thần kinh ống tai và dây thần kinh tai trong, như dây thần kình tiền đình – ốc tai. Những dây thần kinh này có thể sưng lên do độc tố thần kinh liên tục bão hòa chúng. Các dây thần kinh gần với chỗ nhiễm virus nhất có xu hướng phản ứng mãnh liệt hơn. Nếu dây thần kinh hông to bị viêm, bạn sẽ không thể nghe ra bằng tai bởi dây thần kinh hông to nằm ở lưng dưới và thấp xuống nữa. Nhưng một dây thần kinh trong tai bị viêm lại là câu chuyện khác. Đó là trường hợp duy nhất mà bạn nghe được tình trạng viêm gây ra tiếng ồn. Bạn đang nghe thấy dây thần kinh co thắt và rung động.
Hai, trong nhiều trường hợp, bản thân virus làm tổ ở mê đạo tai trong. Đây là khi chứng ù tai có thể trở nên quá quắt hơn, mạn tính hơn và dẫn tới nhiều triệu chứng khác nhau – chuyển từ tiếng rung thành tiếng ngân ồn ào hơn, tiếng lốp bốp, vo ve, vù vù hoặc đôm đốp. Trong hầu hết trường hợp, virus đó là EBV. Ở số ít trường hợp, đó là sự kết hợp giữa EBV, virus zona và/hoặc herpes simplex 1. Ở trường hợp rất hiếm, chỉ có virus zona hoặc herpes simplex mà thôi. Nếu virus zona hay herpes simplex hiện diện và hoạt động tại vùng cổ, bên cạnh đầu, thậm chí trên vai, thì độc tố thần kinh mà chúng tiết ra có thể góp phần gây nên chứng ù tai. Trong trường hợp này, chứng ù tai có thể cách quãng hơn nữa.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Ù Tai trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

90. Hội chứng TOURETTE

Hội chứng Tourette phát sinh chủ yếu do thủy ngân và đồng, cùng vi lượng chì, cản trở các xung điện trong não. Cách thức diễn ra thế này: Khi một xung điện di chuyển qua một khớp thần kinh, nó cũng tựa như di chuyển qua một đường hầm. Nếu cặn kim loại nặng độc hại nằm quanh đường hầm đó, chúng sẽ khiến con đường hẹp lại, tạo thành nút thắt cổ chai. Xung điện di chuyển qua đó sẽ bị đình trệ, về cơ bản là mắc kẹt. Trong khoảng thời gian cực nhỏ (một tích tắc), một xung điện khác sẽ nối tiếp phía sau. Xung điện mới này va đập với xung điện bị cản trở kia và đẩy nó lao tới trước. Điều này khác với OCD – khi một xung điện va phải căn kim loại nặng và bị bật ngược trở lại. Ở hội chứng Tourette, đồng lẫn với chì bao quanh khớp thần kinh dẫn điện nên sẽ hút xung điện đi tới trước, ngay cả khi nút thắt cổ chai ngăn cản xung điện tới mức độ nào đó. Đôi khi cả hai xung điện cùng mắc kẹt, lẫn vào nhau và bắn ra khỏi khớp thần kinh cùng một lúc.
Những xung điện này trong não đều đang vận chuyển thông tin. Chúng chở những thông điệp mà một người đang cố gắng trình bày hoặc trao đổi rõ ràng. Nên khi xung điện bị cản trở rồi bị đẩy bật đi, thông tin trong nó cũng sẽ bị đẩy bật đi, từ đó khiến thông tin trở nên khó kiểm soát hoặc níu giữ. Thông tin nhảy vọt lên trước ý thức – điều này đồng nghĩa với việc một hành động, lời nói, cử chỉ hay âm thanh có thể xảy đến ngoài tầm kiểm soát. Xung điện đó, theo đúng nghĩa đen, sẽ phóng đi về rất nhiều hướng, với tốc độ nhanh hơn bình thường. Đây là lý do tại sao chứng Tourette lại đa dạng, với nhiều biến số đến thế. Kích thước đường hầm giữa các tế bào thần kinh, cùng với lượng kim loại nặng độc hại bao quanh khớp thần kinh và tế bào thần kinh, cũng ảnh hưởng tới trải nghiệm trong hội chứng Tourette; số lượng thủy ngân, đồng và vi lượng chì liên quan cũng đóng phần nào vai trò. Trong nhiều ca, ba xung điện va đập với nhau, sau đó, xung điện đầu tiên mới lẫn vào hai xung điện sau rồi tất cả cùng bị hút bật ra khỏi đường hầm khớp thần kinh. Về cơ bản, đây chính là điểm ứ đọng. Tất cả các yếu tố này sẽ quyết định xem liệu các triệu chứng Tourette của một người có rõ rệt hay không.
Trong đa số các trường hợp, hội chứng Tourette nhất quán và có thể dự đoán trước, bởi vị trí ứ đọng trong não luôn xảy ra đúng chỗ đó, do cặn kim loại nặng độc hại vẫn hiện diện tại đấy. Khi bệnh nhân chiến đấu để vượt qua các triệu chứng Tourette bằng cách tập trung và chú ý, điều họ đang làm là tái định hướng các tuyến đường thần kinh, ngay cả khi họ không nhận thức được mình điều đó. Truyền các xung điện đi theo những cung đường khác trong não, nơi hiện tượng ứ đọng do kim loại nặng độc hại không xảy ra, có thể thay đổi các trải nghiệm trong hội chứng Tourette, đôi khi theo nhiều khía cạnh không thể dự đoán.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Hội Chứng Tourette trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

91. Chứng run rẩy (TREMORS)

Run rẩy dữ dội thường phát sinh do khối cặn kim loại nặng độc hại lớn trong não gồm thủy ngân và nhôm, đôi khi có một chút đồng. Các căn kim loại năng độc hại này không nhất thiết phải trải qua tình trạng oxy hóa nhiều năm trời mới gây nên vấn đề. Người ta không nhất thiết phải bước vào độ tuổi 40, 50, 60, hoặc hơn nữa, mới phát triển chứng run rẩy do cặn kim loại nặng trong não -mà có thể ở bất cứ độ tuổi nào.
Nếu ai đó đang phải sống chung với chứng run rẩy và hệ thần kinh suy yếu, thì tình trạng run rẩy của họ có thể tồi tệ đi. Những ca run rẩy cực độ hình thành do khối cặn kim loại nặng độc hại lớn hơn. Tình trạng run rẩy nặng hơn cũng có thể là hậu quả khi kim loại nặng độc hại oxy hóa, với phụ phẩm kim loại thấm vào nhiều vùng khác trong não, gây ô nhiễm các tế bào thần kinh khác nữa, và phá vỡ các hóa chất dẫn truyền thần kinh. Đến cuối cùng, run rẩy nặng có thể khiến bệnh nhân nhận phải chẩn đoán Parkinson.
Đôi khi, run rẩy dữ dội xảy ra do mất cân bằng đường huyết. Tình trạng đó được gọi là “run run” (shakes), một dạng khác của run rẩy. Đường huyết của một người có thể đột ngột xuống thấp do tình trạng kháng insulin, tuyến tụy suy yếu hoặc tuyến thượng thận suy yếu. Đường huyết sụt giảm như thế gây hạ đường huyết có thể gây nên những cơn run rẩy nhẹ và tạm thời. Đây là não gửi tín hiệu cảnh báo rằng glucose đang ở mức không tối ưu và cần thêm glucose để duy trì sức mạnh thần kinh. Tình trạng đoản mạch có thể xảy đến khi lượng glucose của bạn xuống thấp. Với một số người, chứng run rẩy do hạ đường huyết có thể không quá dữ dội, bởi hệ thần kinh và các chất dẫn truyền thần kinh của họ khỏe mạnh hơn, với số cặn kim loại nặng độc hại ít hơn. Khi ai đó nhiễm kim loại nặng độc hại trong não kết hợp với tình trạng hạ đường huyết, điều này có thể gây nên dạng run rẩy nặng nề nhất – dạng này thường dù dội hơn hẳn trường hợp run run.
Những đợt dâng trào adrenaline có thể khiến một người gặp phải tình trạng run run theo cơn, tương tự như hạ đường huyết. Run do adrenaline có thể xảy đến khi người đó thoát hiểm trên đường cao tốc, nhận được tin xấu, hoặc đương đầu với mâu thuẫn. Toàn thân họ có thể run run. Nếu ngay từ đầu người đó đã có hệ thần kinh suy yếu, thì tình trạng run run đến từ một đợt dâng trào adrenaline có thể dữ dội hơn và kéo dài hơn. Dây thần kinh phế vì có thể rung lắc theo đúng nghĩa đen khi adrenaline tăng vot. Đặc tính bào món của adrenaline có thể kích thích quá mức đối với những dây thần kinh sọ vốn đã bị sưng viêm hoặc nhạy cảm.
Tình trạng nhiễm virus (như EBV) cũng có thể góp phần gây nên chứng run rẩy, nếu virus giải phóng lượng độc tố thần kinh dồi dào – bởi virus tiêu thụ kim loại nặng độc hại. Các dây thần kinh phản ứng và trở nên kích ứng. Khi độc tố thần kinh bão hòa các dây thần kinh sọ gần thân não, người bệnh có thể phải nếm trải cơn rung lắc khắp người, tương tự như chứng run rẩy toàn thân nhưng khó nhận biết hơn. Độc tố thần kinh có thể đậu trên dây thần kinh rồi xâm nhập não và đáp xuống các tế bào thần kinh, từ đó càng khiến chứng run rẩy trở nặng.
Vị trí tụ tập trong não hay trong hệ thần kinh của kim loại nặng độc hại hoặc độc tố thần kinh của virus sẽ quyết định liệu chứng run rẩy sẽ diễn ra ở cánh tay nào, hoặc liệu đó là cơn run toàn thân hay run chân mà thôi.
Chứng run rẩy dữ dội có thể xảy ra ở cẳng chân, xuất phát từ dây thần kinh thắt lưng và dây thần kinh hông to, nếu một virus (như virus zona) khu trú ở khu vực thắt lưng và gây viêm dây thần kinh. Những dạng run rẩy này thường không kéo dài nếu không xảy ra đau lưng và đau chân. Nếu diễn ra tình trạng đau lưng và đau chân – bởi dây thần kinh tủy sống, dây thần kinh hông to và dây thần kinh chày bị viêm do virus zona -thì nhiều triệu chứng khác, như run rẩy dữ dội, có thể kéo dài. Khi cơn đau từ các dây thần kinh bị viêm này dịu bớt, tình trạng run rẩy cũng thường giảm đi vì các dây thần kinh đã đỡ viêm rồi.
Khi đối mặt với chứng run rẩy, củng cố sức mạnh cho hệ thần kinh là điều tối quan trọng. Bởi như thế có thể giúp giảm bớt run rẩy. Thông thường, các xung điện sẽ tự tái điều hướng vòng qua một khối cặn thủy ngân-nhôm-đồng cỡ lớn, chọn tuyến đường khác băng qua một vùng não khác. Điều này đôi khi giúp người ta khuây khỏa hơn. Đây là lý do tại sao bệnh nhân mắc chứng run rẩy nhẹ có lúc hết run, có khi tái phát.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị tình trạng Viêm Dây Thần Kinh Sọ trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

92. Đau dây thần kinh sinh ba

Trong quá khứ, đại đa số các ca đau dây thần kinh sinh ba đều do virus zona gây ra. Thời thế đang thay đổi. Virus đang đột biến. Virus herpes simplex 1 (hay còn gọi là virus gây rộp môi) đang gia tăng. Đây là lý do tại sao rất nhiều trẻ em mắc bệnh rộp môi. Trước kia, rất hiếm trường hợp trẻ bị rộp môi. Nhưng thời nay, đó đã là chuyện quá phổ biến. Herpes simplex 1 được truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, và số đột biến mới đang tăng lên, gây nên rất nhiều triệu chứng phức tạp. Herpes simplex 1 hiện đang gây ra gần 50% số ca đau dây thần kinh sinh ba. Một số ca đau dây thần kinh sinh ba rất nặng phát sinh do cả hai virus cùng hoạt động: Virus zona và herpes simplex 1.
Nhưng virus này chưa chắc đã hoạt động rõ rệt – khi mà bạn bị mụn mủ zona ở sườn mặt, bên hông; hoặc vết loét hay mụn rộp của herpes simplex trên miệng, mũi hay mặt. Ngay cả khi không có những dấu hiệu bên ngoài này, một trong hai virus có thể vẫn đang hoạt động bên trong, gây ra nhiều cơn đau ghê gớm do dây thần kinh sinh ba bị viêm. Tất cả các dây thần kinh mặt và dây thần kinh sọ đều có thể trở nên sưng viêm do virus zona và herpes simplex 1. Các triệu chứng có thể bao gồm đau hàm hoặc đau răng; đau rát bên ngoài, bên trong hoặc xung quanh nướu, đau một bên mặt, đau gáy; đau một bên thái dương; và đau sau mắt. Thậm chí cảm giác đau và rát trên lưỡi, hoặc nóng rát trong đầu có thể xảy ra ở một số ca. Hàng triệu người đang phải rút tủy răng hoặc nhổ răng hay khoan răng vô cớ vì đau dây thần kinh sinh ba thường bi nhầm lẫn thành vấn đề về răng.
Đau dây thần kinh sinh ba có thể rất khó vượt thoát, bởi tính chất bí ẩn của nó. Nhưng sự thấu hiểu về tình trạng này đã trở nên rõ ràng: Độc tố thần kinh đang thấm đẫm dây thần kinh sinh ba, của virus zona và/hoặc herpes simplex 1 cùng với các dây thần kinh mặt và dây thần kinh sọ khác, rồi khiến chúng bị viêm. Trong một số ca, virus zona hoặc herpes thậm chí còn làm tổ trong dây thần kinh sinh ba, và sống thoải mái tại đó. Khi ấy, tình trạng đau dây thần kinh sinh ba còn nghiêm trọng hơn hẳn. Nhiều người tiêm botulinum (tiêm botox) – một loại thường được sử dụng trong tiêm thẩm mỹ – như một giải pháp giảm đau mặt, đau cổ, đau mắt, đau hàm và đau đầu, vì họ cố gắng tìm kiếm bất cứ sự khuây khỏa nào có thể.
Nhiều người đi phẩu thuật để đối phó với tình trạng đau dây thần kinh sinh ba mà không hiệu quả, chỉ làm tăng thêm vấn đề biến chứng hậu phẫu và điều trị.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị tình trạng Zona và/hoặc Herpes Simplex 1 & Herpes Simplex 2 trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.

93. Chóng mặt

Hầu hết các ca chóng mặt đều phát sinh do nhiễm virus. Một số là do chấn thương thể chất, hoặc do một khối u hoặc sự phát triển nào đó trong não. hoặc do chướng ngại thể chất nào khác và đã được phát hiện, chẩn đoán ra. Nhưng nếu không xuất hiện những vấn đề như thế, thì người bệnh đang phải đối mặt với tình trạng chóng mặt bí ẩn. Ngành công nghiệp y tế tin rằng chóng mặt là một dạng vấn đề tai trong, có thể liên quan tới tình trạng tinh thể, hạt hoặc sỏi ở tai trong. Lý thuyết này cho rằng nếu bạn xoay cổ hoặc đầu theo một hướng nào đó, nó sẽ phá vỡ tinh thể đó và kích hoạt một cơn chóng mặt.
Căn nguyên thật sự của hầu hết các ca chóng mặt là virus Epstein-Barr giải phóng độc tố thần kinh gây viêm dây thần kinh phế vị. Vị trí bị viêm của dây thần kinh phế vị sẽ tác động tới dạng thức chóng mặt. Một số ca chóng mặt hiếm có thể là do viêm trong não – một dạng viêm não nhẹ, không chẩn đoán ra, hoặc thậm chí viêm nghiêm trọng trong não do một tình trạng nhiễm virus, nhiều khả năng là EBV.
Các triệu chứng chóng mặt có thể biến thiên từ việc cảm thấy chòng chành như trên thuyền, tới chao đảo như sắp ngã nhào hoặc ngã sang hai bên khi đang đi bộ. Nó cũng có thể nghiêm trọng tới mức bạn cảm thấy tình trạng mà tôi gọi là giường xoay vòng: Khi bạn nằm trên giường, căn phòng như quay cuồng hoặc dao động tới lui khi bạn nhắm mắt lại. Ở một số ca chóng mặt nặng, bạn có thể nôn mửa, thậm chí không thể xoay đầu. Đó là những tình trạng nhiễm virus cấp tính hơn, khi mà hệ miễn dịch của bệnh nhân sụt giảm và EBV kiếm được vị trí chắc chắn trên dây thần kinh phế vị, hoặc xâm nhập thân não hay trực tiếp bám vào thân não, nơi bắt nguồn dây thần kinh phế vị. Trong nhiều ca, không chỉ mỗi độc tố thần kinh của EBV gây viêm dây thần kinh phế vị, tự thân EBV có thể bám lấy dây thần kinh này và gây viêm.
Ở nhiều ca khác, chỉ có độc tố thần kinh của EBV gây viêm dây thần kinh phế vị. Đôi khi, những độc tố thần kinh này gây viêm toàn bộ dây thần kinh phế vị, từ gốc tới ngọn.
Các phương án điều trị trong đó bạn di chuyển đầu vòng quanh, hoặc liệu pháp thể chất để điều trị tình trạng chóng mặt (như các bài tập thể dục cho dây thần kinh phế vị) không phải lúc nào cũng hiệu quả. Trong nhiều ca, bài tập thể dục dành cho dây thần kinh phế vị chỉ khiến bệnh càng nặng thêm. Nếu chúng hiệu quả, chẳng qua là vì dây thần kinh phế vị được dịch chuyển nhẹ nhàng. Tình trạng sưng viêm vẫn hiện diện, nhưng dây thần kinh phế vị dịch chuyển đủ tới mức thay đổi phản ứng của người bệnh với tình trạng viêm đó. Rất nhiều khi, chóng mặt chỉ diễn ra tạm thời, nên một tuần sau đó, bệnh tự nhiên khỏi, dù người đó có tham gia điều trị hay không.
Nhưng các ca chóng mặt mạn tính liên quan tới EBV không tự nhiên hết. Một số người có thể trải qua nhiều dạng thức và nhiều cơn bệnh suốt nhiều năm mà không thuyên giảm. Có các ca chóng mặt hiếm, khi mà dây thần kinh thị giác bị viêm nghiêm trọng do EBV; hậu quả là, các vấn đề cân bằng có thể phát sinh khi người đó đứng hoặc đi bộ. Trong hầu hết các ca, dây thần kinh thị giác và dây thần kinh phế vị bị viêm cùng một lúc, và tình trạng viêm đó rất có thể bắt nguồn từ thân não. Chóng mặt có thể là một tình trạng rất phức tạp.
Dây thần kinh phế vị là những dây thần kinh thăng bằng – chúng truyền thông tin từ não cho phép sự ổn định về thể chất, sự vững chắc và sức bền khi bạn chống chọi với trọng lực. Dây thần kinh phế vị giữ cho bạn cân bằng, trong khi trọng lực cố kéo bạn xuống. Khi dây thần kinh phế vị bị viêm, tín hiệu từ não trở nên tản mát và rời rạc, tạo điều kiện cho trọng lực biến đổi cảm nhận của bạn. Dây thần kinh phế vị nắm giữ sự cân bằng giữa tất cả các phần khác trong não. Đó là lý do tại sao người mắc chứng chóng mặt khi đi bộ, họ có cảm giác như bị kéo ngã về phía sau hoặc nhào ra phía trước. Đây là một ví dụ cho thấy trọng lực chiếm ưu thế khi dây thần kinh phế vị bị đoản mạch.
Xem thêm Bệnh Ménière.
Để có chỉ dẫn hỗ trợ chữa lành cụ thể hơn, hãy tham khảo phác đồ điều trị Chóng Mặt trong cuốn Phác đồ thanh lọc & công thức giải cứu não.